Thứ Tư, 17 tháng 6, 2015

Định nghĩa dịch tễ học

      Từ trước đến nay, cùng với sự phát triển của dịch tễ học, đã có nhiều định nghĩa về môn học này, mỗi định nghĩa đánh dấu một bước phát triển ở thời kỳ đó. Gần đây, Dịch tễ học được định nghĩa là một khoa học nghiên cứu sự phân bố tần số mắc hoặc chết đối với các bệnh trạng cùng với những yếu tố quy định sự phân bố của các yếu tố đó và ứng dụng của các nghiên cứu này để kiểm soát các vấn đề sức khoẻỞ định nghĩa này cần chú ý hai thành phần liên quan chặt chẽ với nhau: sự phân bố tần số và các yếu tố qui định sự phân bố tần số đó.

      Sự phân bố chất đối với một bệnh trạng nhất định được nhìn từ ba góc độ của dịch tễ hoc: con người- không gian- thời gian, để có thể trả lời được một câu hỏi là một bệnh trạng nào đó được phân bố như thế nào, ỏ những ai (tuổi nào, giới tính nào, nghề nghiệp nào, dân tộc nào…) ở đâu (vùng địa lý nào, nước nào…) vào thời gian nào (trước kia, hiện nay, vào những năm nào tháng nào…).

      Các bệnh trạng bao gồm mọi yếu tố nội và ngoại sinh thuộc nhiều lĩnh vực, bản chất khác nhau có ảnh hưởng đến sự mất cân bằng sinh học đối vối một cơ thể khiến cơ thể đó không duy trì được tình trạng sức khoẻ bình thường nữa. Nghiên cứu các yếu tố quy định, sự phân bố tần số tình trạng đó, xem tại sao lại có sự phân bố như vậy, mọi lý giải được các yếu tố nguyên nhân hoặc các yếu tố phòng ngừa đối với từng bệnh trạng nhất định.

dịch tễ học

        Ở cả hai thành phần của định nghĩa này đều có liên quan chặt chẽ đến tần số mắc và tần số chết, nói cách khác là phải định lượng các hiện tượng sức khoẻ đó dưới dạng số tuyệt đối, đo đếm chính xác và dưới dạng tỷ số để có thể đem so sánh được. Sự hiểu biết và nắm vững hai thành phần liên quan chặt chẽ vối nhau đó trong định nghĩa dịch tễ học là rất cần thiết trong quá trình lập luận dịch tễ học. Quá trình lập luận dịch tễ học thường được bắt đầu bằng sự nghi ngờ về những ảnh hưởng có thể có của một phơi nhiễm đặc thù nào đó đến sự xuất hiện, duy trì, thoái trào của một bệnh trạng nhất định.

       Sự nghi ngờ này có thể nảy sinh từ những thực hành lâm sàng, xét nghiệm, những báo cáo thu thập tình hình các bệnh trạng, từ những nghiên cứu mô tả dịch tễ học các bệnh trạng để phác thảo nên những giả thuyết về sự liên quan giữa một phơi nhiễm đối với một bệnh trạng: giả thuyết về môt quan hệ nhân – qụả. Giả thuyết nhân quả này sẽ được kiểm định bằng các nghiên cứu dịch tễ trên thông qua việc so sánh một nhóm chủ cứu và một nhóm đối chứng để xác định xem có một kết hợp thông kê hay không, bao hàm cả việc loại trừ các sai số hệ thông, loại trừ các may rủi và nhiễu, sau đó tiến hành một suy luận xem kết hợp thống kê đó có phản ánh một kết hợp nhân quả giữa một phơi nhiễm và bệnh hay không.



Từ khóa tìm kiếm nhiều: sán lá gan lớn, trieu chung giun san

Vật chủ trong chu kỳ giun đũa

     Giun đũa A. lumbricoides là loài giun đũa đặc hiệu cho người, loài này không có khả năng ký sinh ở các loài động vật khác. Ngược lại các loài giun đũa khác (giun đũa trâu bò, giun đũa lợn…) cũng không có khả năng nhiễm sang người.

     Nhưng trong thực tế có thể có tình trạng lạc chủ, nghĩa là người có thể nhiễm phải giun đũa của chó, lợn… trong tình trạng “mắc phải”. Trong trường hợp này ấu trùng lạc chủ không có khả năng phát triển trong cơ thể người đến giai đoạn trưởng thành ở ruột nhưng ngược lại cơ thể người có phản ứng miễn dịch mạnh đối với loài giun lạ này. Hiện tượng này gọi là hiện tượng lạc chủ.

Vật chủ trong chu kỳ giun đũa

    Ngoài hiện tượng lạc chủ, chu kỳ giun đũa còn có thể xảy ra hiện tượng lạc chỗ là vi trong quá trình ấu trùng chu du ấu trùng vẫn tiếp tục phát triển về kích thước. Vì giun đũa là loài giun to nên sự phát triển ấu trùng giai đoạn III, IV, V là rất nhanh, kích thước từ 0,5 mm tới 1 – 2 mm nên giun có thể mắc lại ở các kẽ van tim, ngược lại có thể vào tĩnh mạch tối phổi để vào hệ thông động mạch chủ, từ đó ấu trùng có thể di chuyển tới các nơi của cơ thể người. Trong ngoại khoa người ta có thể tìm thấy giun đũa ở tim phải, ở động mạch khỏe… Hiện tượng lạc chỗ gây ra các bệnh của hệ thống tuần hoàn. Chúng ta rất cần biết để phân biệt giun đũa lạc chỗ và giun đũa di chuyển (giun chui ống mật, giun chui vào ông tụy, giun chui vào ruột thừa, giun chui lên dạ dày, giun chui vào ống tai).



Từ khóa tìm kiếm nhiều: benh giun luon, bệnh giun sán ở người

Người ngoại cảnh trong chu kỳ giun đũa

     Giun đũa sống ở trong ruột non của người. Khu vực sống của giun đũa là phần đầu và phần giữa của ruột non. Giun đũa sống thích hợp ở môi trường có pH 7,5 – 8,2. Nếu đi lên phần dạ dày pH toan, giun không sống được, còn nếu chuyển về phần sau của ruột non thì sinh chất nghèo không đủ nuôi sống giun đũa.

     Qua thực nghiệm nuôi giun đũa của Phạm Hoàng Thế, Đỗ Dương Thái, Phạm Ngọc Thái 1971 cho thấy nếu nuôi giun đũa ở pH 7,5 – 8,2 thì giun sống mềm mại, nhu động bình thưởng. Nếu pH chuyển về acid từ 6 – 7 thì giun có tình trạng kích động, giun xoắn vào nhau và thường chui qua các ông nhở đê tránh môi trường acid.Giun đũa đực và cái trưởng thành giao hợp và đẻ trứng. Trứng theo phân ra ngoại cảnh. Đòi sống của giun đũa ngắn, thường kéo dài từ 13 – 15 tháng. Quá thời gian này, giun đũa thường bị nhu động ruột đẩy ra ngoài theo phân.

chu kỳ giun đũa

     Ngoại cảnh là nơi ấp ủ trứng giun đũa. Khi trứng giun đũa ra ngoại cảnh gặp điều kiện thuận lợi (nhiệt độ, độ ẩm và có oxy) trứng giun từ một nhân sẽ phát triển đến giai đoạn có ấu trùng trong trứng. Nếu người ăn phải trứng giun đũa có ấu trùng này khi vào người trứng có ấu trùng sẽ phát triển thành giun đũa trưởng thành.

    Tuy nhiên, từ khi ăn phải trứng giun đũa có ấu trùng cho đến khi người mang giun đũa trưởng thành, ký sinh ở ruột phải trải qua thời gian trong vòng 60 ngày. Và bản thân ấu trùng giun đũa cũng phải có một quá trình chu du trong cơ thể người rồi mới tối được nơi ký sinh là ruột non. Quá trình chu du như sau: người ăn phải trứng giun đũa có ấu trùng, khi vào dạ dày, nhờ sức co bóp cơ học và dịch vị làm cho ấu trùng thoát ra khởi vở. Ấu trùng có kích thích: 0,2 mm, ấu trùng chui qua các mao mạch ở ruột vào tĩnh mạch mạc treo đế đi về gan. Thời gian qua gan là từ sau 3 – 7 ngày. Ấu trùng không ở lại gan mà chi đi qua gan, thời gian từ 3 – 4 ngày.

      Trong thực nghiệm người ta có thế thu hói ấu trùng giai đoạn II này với kích thước 0,5 – 0,8 mm. Sau đó ấu trùng lại theo tĩnh mạch trên gan để vào tĩnh mạch chủ và vào tim phải. Từ tim phải ấu trùng theo động mạch phổi để tới phổi. Ta có thể thu hồi ấu trùng giun đũa giai đoạn phổi từ ngày thứ 5 – 14. Thời kỳ này ấu trùng ở giai đoạn III và IV với kích thước 1 – 2 mm. Ấu trùng giai đoạn phổi là thời gian ấu trùng xuất tiết và la kháng nguyên đã gây ra bệnh lý cho người. Ngược lại giai đoạn này cũng là thời gian gây cho cơ thể xuất hiện kháng thể chông giun đũa (Phạm Văn Thán, 1994). Sau khi thay vở ấu trùng giai đoạn IV từ các phế nang đã di chuyên vế vùng hầu họng từ đó người nuốt ấu trùng xuống ruột và ấu trùng sẽ trở thành giun đũa ký sinh ở ruột non.



Từ khóa tìm kiếm nhiều: tác hại của giun đũa, bệnh giun sán

Cấu tạo của giun A. lumbricoides

Các cơ quan bên ngoài

A. lumbricoides là loại giun có kích thước lớn ký sinh ở người, giun cái dài và to hơn giun đực, khi giun trưởng thành con cái dài 20 – 25 cm, con đực dài 15 – 17 cm, giun đũa có màu trắng hồng như sữa, hai đầu nhọn, con đực có đuôi cong về phía bụng. Để nhận định hình thể giun đũa ta lần lượt quan sát.

- Đầu: Thuôn nhở có ba môi xếp cân đối, gồm một môi lưng và hai môi bụng. Bao bọc các môi là tầng kytin trong, trong môi là tủy môi. Hình dạng tủy môi cũng là một yếu tô đê định loại loài.

Cấu tạo của giun A. lumbricoides

- Thân: Tiếp theo đầu là thân giun, thân giun được bao bọc một lốp vở mà trước vân gọi là vở kytin, ở trên lớp vỏ có các vùng ngấn làm tăng ma sát phần vở để di chuyển. Đuôi: Đuôi giun đũa nhọn, gần đuôi sát về phía bụng có lỗ hậu môn. Lỗ hậu môn con đực cũng là lỗ phóng tinh. Đuôi giun đực thường cong để cuốn vào thân con cái chỗ lỗ sinh dục khi giao hợp. Con đực có 2 gai sinh dục bằng nhau, lỗ sinh dục của con cái thì lại ở 1/3 trước thân giun.

Các cơ quan bên trong

-      Bộ phận sinh dục:

+ Bộ phận sinh dục cái gồm hai ông, phần trước nhở được gọi là buồng trứng, phần tiếp theo lớn dần là vòi trứng. Hai vòi trứng khi đến gần lỗ sinh dục cái thì tập trung thành âm đạo đổ ra lỗ sinh dục cái ở 1/3 trước cuả thân giun.

+ Giun cái đẻ trứng: Trứng giun đũa hình bầu dục có kích thước chiều dài 45 – 50 pm. Ngoài cùng là lớn vở xù xì. phần vở này thường bắt màu vàng. Lớp vở xù xì này là một đặc điểm giúp người ta xác định trứng giun khi xét nghiệm. Tuy nhiên màu vàng của lớp vở này và kể cả lớp vỏ xù xì khi ra ngoại cảnh có thể mất đi. Ví dụ như khi ta xét nghiệm tìm trứng giun đũa ở trong đất thì ta chỉ còn thấy trứng giun đũa còn lớp vở dày ở trong mà thôi, lúc đó ta phải dựa vào nhân và kích thuốc để chẩn đoán.

Theo Broun và Cort, trong một con giun đũa cái ở vòi trứng người ta ước tính có 24 triệu trứng.

+ Giun đực: Bộ máy sinh dục đực của giun đũa là một ông tinh hoàn gồm một ông nhở cuộn như cuộn len, dần dần ông này to lên nơi chứa tinh trùng để đưa ra lỗ phụt tinh ở hậu môn giun đũa đực. Đặc biệt ở bộ máy sinh dục đực của giun đũa có hai gai sinh dục, hai gai sinh dục dùng để cố định giun cái trong lúc giao hợp.

-      Bộ máy tiêu hóa: Ba môi phía đầu giun đũa là một bộ phận định hướng, hướng dẫn giun đến những vùng có thức ăn. Tiếp theo môi giun là một ống tiêu hóa bao gồm phần trên là thực quản và phần dưới là ruột đổ ra hâu môn. Ống tiêu hóa của giun dày, có khả năng hút sinh chất trong ruột người, còn ruột thì ngắn và đơn giản vì thức ăn của giun là các chất đã được con người tiêu hóa rồi.

-      Các bộ máy tuần hoàn, bài: tiết của giun thì đơn giản hơn nhiều.



Từ khóa tìm kiếm nhiều: bệnh sán lá gan, benh giun san

Thứ Ba, 16 tháng 6, 2015

Điều trị giun đũa

        Santoninhiệu quả ra giun cao, độc. Dễ uống khi phối hợp với đường (dạng thuốc giun quả núi).Tuy nhiên có nhiều phản ứng phụ: nhìn vàng, buồn nôn, gây kích thích giun có thể đưa đến hậu quả giun chui ống mật. Hiện nay ít dùng.

Piperazin thuốc ít độc, hiệu quả ra giun cao. Tuy nhiên, số lượng thuốc phải dùng nhiều và kéo dài ngày gây phiền phức. Hiện nay còn dùng dưới dạng sirô cho trẻ em.

Levamisol (Decaris, Vinacor) hiệu quả ra giun cao. Đối với Levamisol, hiện nay có những khuyến cáo không nên dùng vì thuốc có thể gây tai biến như não viêm hoặc gây ung thư.

Pyrantel-pamoat (Combantrin, Helmintox) ít độc, hiệu quả trên nhiều loại giun, giá thành còn cao.

Mebendazol (Vermox) không độc, hiệu quả ra giun cao, có tác dụng trên nhiều loại giun.

Albendazol (Zentel) ít độc, hiệu quả trên nhiều loại giun, giá thành còn cao.

Điều trị giun đũa

Chống tái nhiễm trứng giun đũa ngoại cảnh

     Vấn đề đầu tiên là quản lý phân. Quản lý phân liên quan tới việc xây dựng hố xí, những nơi có điều kiện tốt nhất là dùng hố xí tự hoại.

     Không dùng phân tươi để bón cây, hoa màu. Hố xí hai ngăn đúng quy cách và sử dụng đúng quy định có khả năng hạn chế sự khuyếch tán trứng giun đũa, có khả năng diệt trứng giun đũa. Tuy nhiên, hố xí hai ngăn hiện nay ở các địa phương đều không đúng quy cách xây dựng và sử dụng.

     Vấn đề ăn uống cũng là nguồn để nhiễm trứng giun đũa ở ngoại cảnh. Ta cần quan tâm đến trẻ em, lứa tuổi hay lê la bò chơi trên sàn nhà rồi lại mút tay. Vấn đề gia súc, ruồi đều là nguồn đưa trứng giun vào thức ăn của người.

Nguồn trứng giun không chỉ ở rau sống, nước lã, mà ngay cả trong bụi nhà.

Điều trị giun đũa hàng loạt và định kỳ trong năm

     Bệnh giun đũa là một bệnh phổ biến, tỉ lệ nhiễm và mức độ nhiễm cao. Do đó muôn hạ thấp tỷ lệ nhiễm, tiến tới khống chế bệnh ở một vùng thì phải có kế hoạch điều trị trên diện rộng. Trong năm tùy thời gian (mùa nhiễm) mà cho nhân dân uống thuốc định kỳ, hoặc 4 hoặc 6 tháng 1 lần, đặc biệt với trẻ em từ 3 tới 12 tuổi.

    Trường hợp các cá nhân điều trị tuy có hiệu quả cho bản thân người đó nhưng không thể ảnh hưởng hạ tỷ lệ nhiễm giun cho vùng được.

     Hiện nay trong kế hoạch khống chế bệnh giun đũa là thường kết hợp với chương trình vệ sinh môi trường, cung cấp nước sạch và giáo dục vệ sinh cho cộng đồng. Điều trị phải tiến hành đồng loạt cho một vùng rộng lớn. Nhờ có các loại thuốc mới như mebendazol hay albendazol độc lực rất thấp, hiệu quả cao (cả đối với giun móc/ mở, giun kim, giun tóc…) nên việc uống thuốc trên diện rộng dễ thực hiện. Tuy nhiên để có hiệu quả người ta thường phải uống liên tiếp các đợt cách nhau 3 – 6 tháng. Do đó phải có nguồn tài chính lớn.

     Các kế hoạch phòng chống giun sán hiện nay cũng đã thực hiện ở nhiều nước và cũng thu được kết quả tốt. Nhật Bản đã tiến hành từ 1949 đến nay tỷ lệ giun đũa còn lại dưới 1%. Ở châu Phi người ta đã tiến hành hạ tỷ lệ giun đũa ở Kenya. Ở Việt Nam chắc chắn cũng sẽ có một kê hoạch hạ tỷ lệ giun đũa cho cả nước.


Đọc thêm tại:

Tình hình nhiễm giun đũa ở nước ta

Nhiễm giun đũa đứng hàng đầu trong các bệnh giun truyền qua đất ở Việt Nam.

Theo số liệu của Viện Sốt rét – Ký sinh trùng và Côn trùng Hà Nội, năm 1998:

Miền Bắc:Vùng Tây nguyên 10 – 25%

Tình hình nhiễm giun thay đổi theo tuổi và nghề nghiệp: Trẻ em là lứa tuổi nhiễm giun đũa cao nhất và nặng nhất. Nông dân tiếp xúc với phân, đất có tỷ lệ nhiễm cao.

Các em nhỏ 4 tháng tuổi đã tìm thấy trứng giun đũa trong phân. Gần đây qua điểu tra ở học sinh phổ thông cơ sở (nội ngoại thành Hà Nội) 1995, Hoàng Tân Dân – Trương Thị Kim Phượng và cộng sự cho kết quả nhiễm giun đũa 62,47%. Kết quả trên cho thấy mặc dầu môi trường đã được cải thiện, đời sống nhân dân đã cao hơn nhưng bệnh giun đũa vẫn chưa giảm đáng kể. Cũng qua điều tra của Cấn Thị Cúc (1980) tại tỉnh Quảng Ninh cho thấy nhân dân nói chung tỉ lệ nhiễm giun đũa là 88,39%, của Đỗ Thị Đáng (1990) tại tỉnh Thái Bình (một tỉnh nông nghiệp) cho kết quả tỉ lệ nhiễm giun đũa là 87,71% (nam 85,72%, nữ 87,01%).

Tình hình nhiễm giun đũa

Đánh giá độ ô nhiễm môi trường: để đánh giá độ ô nhiễm môi người ta thường tiến hành xét nghiệm tìm trứng giun đũa khuyếch tán ra môi trường (đất). Kết quả nghiên cứu Phạm Hoàng Thế, Nguyễn Nhân Kim (1963) đả cho thấy: có thể tìm thấy trứng giun đũa ở sàn nhà (thành phố Hà Nội) sàn lớp học, bàn học sinh. Ở nông thôn cũng tìm thấy trứng giun đũa ở sân, lối đi, trong nền nhà, trên bàn, trên ghế với tỉ lệ 3 trứng giun/100g đất. Đặc biệt số trứng được tăng lên 19 lần ở những khu vực xung quanh hố xí (chu vi 3 m). Ở nông thôn Việt Nam, vấn đề sử dụng phân người làm phân bón hoa màu là nguồn làm khuyếch tán trứng giun đũa, còn phải kể đến các gia súc, chó, lợn, gà cũng là nguồn khuyếch tán trứng giun đũa. Thí nghiệm ở gà 16 – 40%, ở lợn và chó 52- 76% trứng giun đũa được bài tiết ra vẫn phát triển sau khi bị các gia súc ăn vào.

Mùa lạnh ở nước ta không có đủ điều kiện để diệt trứng giun đũa ở ngoại cảnh, kể cả miền núi. Do đó, ngoại cảnh Việt Nam quanh năm đều là nguồn ấp ủ phát triển trứng giun đũa.



Từ khóa tìm kiếm nhiều: sán lá gan nhỏ, trieu chung giun san

Sự phát triển và tình hình nhiễm giun đũa

Do số lượng trứng giun đũa bài xuất theo phân cao, do khả năng đề kháng của trứng giun đũa ở ngoại cảnh mạnh, nên bệnh giun đũa là phổ biến ở nhiều nước, đặc biệt bệnh phát triển ở khu vực có khí hậu nóng ẩm.

Khả năng phát triển của trứng giun đũa ngoại cảnh

Giun đũa cái có khả năng sinh sản rất lớn. Theo các nghiên cứu nuôi giun tại phòng thí nghiệm, mỗi ngày 1 con giun đũa cái có thể đẻ tới 23 – 24 vạn trứng. Trứng giun đũa không có khả năng phát triển trong cơ thể người. Các điều kiện phát triển của trứng giun đũa ở ngoại cảnh là nhiệt độ, ẩm độ và oxy.

Nhiệt độ thuận lợi 24 - 25°c, ở nhiệt độ này sau 12 – 15 ngày trứng non phát triển đến giai đoạn có ấu trùng, giai đoạn trứng có khả năng nhiễm cho người. Nếu nhiệt độ thấp thì thời gian phát triển kéo dài có khi tới vài tháng và tỷ lệ trứng hư hỏng lên cao.

Nhiệt độ càng cao làm tỷ lệ trứng hỏng càng tăng và thời gian vẫn là 12 ngày. Trứng sẽ bị hủy hoại ở nhiệt độ trên 60°c. Trứng giun đũa có thể tồn tại ở nhiệt độ dưới 0 cho tới -12°cmới có khả năng diệt trứng giun đũa.

Âm độ từ 80% trở lên là điều kiện tốt nhất cho trứng giun đũa phát triển.

Oxy là yếu tố cần thiết cho trứng giun đũa phát triển. Do đó khi trứng giun đũa bị nằm sâu dưới nước (trên 1 m chiều sâu) dần dần trứng sẽ bị hỏng. Vì vậy trong hố xí nước trứng giun sẽ bị hỏng sau 2 tháng.

Đối với hoá chất: Formol 6% không có khả năng diệt trứng giun đũa. Thuốc tím rửa rau sông, cresyl rửa sàn nhà cũng không có khả năng diệt trứng giun đũa.

Một số nước đã dùng dung dịch iod 10% để diệt trứng giun sán trong rau sống, tuy nhiên thường để lại vị khó chịu nếu không được rửa lại cẩn thận bằng nước sạch.

Trong thiên nhiên trứng giun đũa thường bị hủy hoại bởi ánh nắng mặt trời và điều kiện thời tiết khô hanh.

tình hình nhiễm giun đũa

Tình hình nhiễm giun đũa trên thế giới

Các nước châu Âu: do điều kiện khí hậu lạnh, khô làm cho sự phát triển trứng giun đũa ở ngoại cảnh bị hạn chê” nhiều. Theo các nghiên cứu sự tồn tại của trứng giun ở vùng ngoại ô Matxcơva thì qua mùa lạnh số trứng giun đũa sống sót lại chỉ còn 1 – 2% và tới mãi tháng 4, tháng 5 năm sau mới có điều kiện phát triển thành trứng có ấu trùng.

Ngoài điều kiện khí hậu, các nước châu Âu là nơi có mức sống cao, môi trường sạch, phân đều được xử lý trong các hố xí tự hoại, không còn phong tục sử dụng phân người làm phân bón. Do đó bệnh giun đũa hầu như không còn (dưới 1%). Tuy nhiên trong đại chiến II (1939 – 1945), tỷ lệ bệnh giun đũa cũng cao, ở Ý qua xét nghiệm trẻ em tỉ lệ tới 12 – 75%, ở nông thôn Hà Lan có nơi 45% nhiễm giun đũa. Ở Pháp, Đức, Bở Đào Nha cũng thấy tỷ lệ bệnh giun đũa cao. Khi hết chiến tranh, bệnh giun đũa giảm nhanh (theo thông kê của Tổ chức y tê thế giới WHO).

Các nước châu Phi và châu Mỹ Latinh: do vân đề ô nhiễm môi trường của bệnh giun sán, do khí hậu nóng, ẩm, do đời sông của nhân dân còn thấp nên tỷ lệ bệnh giun đũa hiện vẫn còn xấp xỉ 8% (châu Mỹ Latinh) 12% (châu Phi).

Các nước châu Á: tỷ lệ giun đũa còn cao ở các nước Ấn Độ, Trung Quốc, Bangladesh, Indonesia, Mianma, có nhiều vùng tỷ lệ nhiều giun đũa lên tới 50% dân số.



 Từ khóa tìm kiếm nhiều: giun tóc, bệnh giun sán ở người