Thứ Ba, 2 tháng 6, 2015

Đặc điểm sinh học, chu kỳ giun xoắn

Hình thể
Giun đực trưởng thành dài 1,4 – 1,6 mm; giun cái dài 3 – 4 mm, lỗ sinh dục đực ở phía đuôi và có hai gai sinh dục. Âu trùng giun, xoắn trong tổ chức cơ được bọc bởi màng bao tạo thành kén. Vì vậy giun xoắn còn có tên gọi là giun bao. Màng kén của ấu trùng giun xoắn màu trong, có hai lớp, hình bầu dục nếu như ở lợn, loài gặm nhấm, chó; hình tròn nếu như ở cáo, gấu, mèo … Vì vậy màng kén của giun xoắn trong tổ chức cớ có nguồn gốc từ vật chủ, chứ không phải nguồn gốc từ ký sinh trùng.
Chu kỳ
Đặc điểm chu kỳ
- Muôn thực hiện chu kỳ, mầm bệnh bắt buộc phải phát triển qua vật chủ trung gian (lợn, chuột hoặc hoặc các động vật hoang dại khác như lợn rừng, hổ, báo, chó sói…).
- Giun xoắn có ổ dịch thiên nhiên lưu hành ở các loại động vật gần người như chuột hoặc các động vật hoang dại như lợn rừng, hổ, báo, chó sói…

 chu kỳ giun xoắn

Vị trí ký sinh
Giun xoắn trưởng thành ký sinh ở ruột non, cũng có thể thấy cả ở ruột già. Âu trùng giun xoắn ký sinh ở các tổ chức cơ như cơ hoành, cơ nhai, lưỡi….
Đường xâm nhập
- Thụ động, qua đường ăn uống.
- Người mắc bệnh giun xoắn do ăn phải thịt lợn hoặc thịt các động vật khác có mang kén ấu trùng giun xoắn chưa được nấu chín.
Diễn biến chu kỳ
Khi người ăn phải thịt lợn hoặc thịt các động vật khác có mang kén ấu trùng giun xoắn chưa được nấu chín, vào tối dạ dày người, ấu trùng giun xoắn được giải phóng khởi vở kén và sau 1 – 2 giờ, ấu trùng di chuyển xuống ruột non. Ở ruột non, sau 24 giò, ấu trùng phát triển thành, giun trưởng thành rồi xâm nhập vào niêm mạc ruột. Vào ngày thứ 4 – 5, giun cái trưởng thành đẻ ra ấu trùng trong các bạch mạch của ruột. Thời gian giun cái đẻ kéo dài từ 10 đến 30 ngày, ấu trùng theo hệ bạch mạch tuần hoàn tối tim phải, phổi rồi tới tim trái để tối cư trú tại các tổ chức cơ như cơ hoành, cơ lưõi, cơ vân… và phát triển thành kén. Sau 10 – 15 ngày, các kén này có khả năng lây nhiễm. Kén giun xoắn trong tổ chức cơ có thể tồn tại trong 20 năm và vẫn giữ được khả năng lây nhiễm.
Tuổi thọ của giun xoắn
Giun xoắn trưởng thành ‘thường có tuổi thọ ngắn. Ấu trùng giun xoắn trong cơ thể người có thể tồn tại tới 24 năm.


Đọc thêm tại:

Tính chất gây bệnh của giun lươn

DỊCH TỄ HỌC
Tuy có phân bố rộng khắp, nhưng giun lươn cũng như giun móc/mở là đòi hỏi phải có những điều kiện về địa lý, khí hậu nhất định cho giai đoạn phát triển ấu trùng ở ngoại cảnh. Vì vậy, mức độ nhiễm bệnh nặng, nhẹ tùy thuộc vào vùng địa lý, khí hậu khác nhau. Bệnh thường phân bố ở các nước có khí hậu nóng, ẩm.Tuy nhiên, giun lươn khống yêu cầu nhiệt độ ở ngoại cảnh cao như giun móc/mở nên một sô” vùng khí hậu ôn hòa hoặc lạnh vẫn có bệnh giun lươn như ở Matxcơva, nơi khí hậu lạnh, cũng có bệnh giun lươn (Shikobalova, Semenova). Ở châu Âu, bệnh giun lươn gặp ở Ý, Pháp, Đức, Bỉ, Hà Lan.
Ở miền Bắc Việt Nam, theo kết quả điều tra trong những năm gần đây của Bộ môn Ký sinh trùng, Trường Đại học Y khoa Hà Nội, cho thấy tỷ lệ nhiễm giun lươn dưới 1%.
BỆNH HỌC
Cho đến nay, tính chất gây bệnh của giun lươn khó xác định vì giun lươn dễ phối hợp với các loại ký sinh trùng đương ruột khác để gây nên những triệu chứng pha trộn. Có nhiều trường hợp nhiễm giun lươn khống có triệu chứng lâm sàng. Nhiễm thực nghiệm trên chó cho thấy tùy theo chủng của giun lươn, triệu chứng có thể diễn biến từ nhẹ đến nghiêm trọng tùy theo độc lực của giun.
Khi ấu trùng giun lươn chui qua da, có thể có những hiện tượng viêm ngứa kiểu dị ứng.
Nếu số lượng giun lươn ký sinh nhiều thì triệu chứng lâm sàng mối xuất hiện rõ: viêm ruột, tá trằng thể hiện bệnh nhân đau bụng, ỉa lởng, ngày 5 – 7 lần. Bệnh nhân thường có dấu hiệu thiếu máu nhẹ, bạch cầu ái toan tăng rõ. Giun lươn có thể gây viêm ruột mạn tính, về thần kinh, bệnh nhân dễ bi kích thích, suy nhược thần kinh.
Giun lươn lạc chỗ có thể gây những triệu chứng viêm phổi. Một số bệnh nhân có cơ địa dị ứng có thể xuất hiện cơn hen khi bị nhiễm giun lươn.
Những diễn biến lâm sàng nói trên thương nhẹ, nhưng kéo dài, đôi khi tu mất rồi lại có những giai đoạn xuất hiện trở lại.
CHẨN ĐOÁN
Do những triệu chứng lâm sàng của bệnh giun lươn không rõ rệt, nên đứng trước bệnh nhân bị là chảy kéo dài không rõ nguyên nhân, có bạch cầu ái toan tăng, cần nghĩ đến bệnh giun lươn.
Chẩn đoán xác định bệnh phải xét nghiệm phân tìm ấu trùng. Nếu thấy ấu trùng, phải chẩn đoán phân biệt với ấu trùng giun móc/mở: Au trùng giun lươn có ngay trong phân, còn ấu trùng giun móc/mở xuất hiện muộn (sau khoảng 24 – 48 giò) sau khi phân được bài xuất ra ngoài. Ngoài ra còn có thể chẩn đoán bệnh giun lươn bằng cách lấy dịch tá tràng để xét nghiệm tìm ấu trùng.

Tính chất gây bệnh của giun lươn

ĐIỂU TRỊ
Mebendazol
Trẻ em và người lớn liều lượng giống nhau. Liều duy nhất 100 mg và nhắc lại sau 2 tuần.
Pyrantel pamoat (Combantrin, Helmintox…)
Liều lượng: trẻ em và người lón liều duy nhất 10 mg/kg cơ thể và nhắc lại sau 2 tuần.
Albendazol (Alben, Zentel, Alzental…)
Liều lượng: người lớn và trẻ em dùng liều lượng như nhau 400 mg liều duy nhất X 3 ngày.
Levamisol
Liều lượng: 2,5 mg/kg, liều duy nhất cho cả người lón và trẻ em và nhắc lại sau 2 tuần.
Chú ý: đối vâi levamisol, hiện nay có những khuyến cáo không nên dùng vì thuốc có thể gây tai biến như não viêm hoặc có thể gây ung thư.
PHÒNG BỆNH
Nguyên tắc và các biện pháp phòng bệnh giun lươn giống như nguyên tắc và các biện pháp phòng bệnh giun móc/mở.
Nguyên nhân của bệnh giun xoắn được Owen phát hiện vào năm 1835, bênh do giun xoắn được Zenker mô tả năm 1860. Bệnh giun xoắn là bệnh cấp tính ở người và động vật có vú, nguyên nhân do giun xoắn Trichinella spiralis ở thể trưởng thành và ở thể ấu trùng. Lâm sàng của bệnh tiến triển với các triệu chứng dị ứng mạnh mẽ.



Từ khóa tìm kiếm nhiều: sán lá gan lớn, trieu chứng giun sán

Chu kỳ bình thường của giun lươn

      Chu kỳ giun lươn gồm giai đoạn ký sinh và giai đoạn tự do ở ngoại cảnh. Giun lươn ký sinh trong niêm mạc ruột non. Dinh dưỡng của giun lươn là ăn các sinh chất ở ruột. Giun cái đẻ trứng. Trứng nở thành ấu trùng trong lòng ruột rồi theo phân ra ngoài.
Ra ngoại cảnh, gặp điều kiện nhiệt độ, ẩm độ thích hợp và sự có mặt của oxy, ấu trùng tiếp tục phát triển thành ấu trùng có thực quản hình trụ. Ấu trùng này có khả năng xâm nhập qua da vào người để thành giun ở thành ký sinh ở người hoặc ấu trùng có thể phát triển thành giun trưởng thành sống tự do ở ngoại cảnh.
Khi xâm nhập qua da vào người, ấu trùng giun lươn theo đương tĩnh mạch về tim phải. Từ tim phải, ấu trùng theo động mạch phổi để tối phổi. Sau một thời gian phát triển ở phổi, ấu trùng theo các nhánh phế quản tới khí quản rồi lên hầu, được nuốt xuống đường tiêu hóa và dừng lại ở ruột non để phát triển thành giun lươn ở thành. Như vậy, với thế hệ ký sinh ở người, giun lươn có chu kỳ gần giống với chu kỳ của giun móc/mở.
Trong trưòng hợp không gặp được vật chủ là người, ấu trùng giun lươn sẽ phát triển ở ngoại cảnh để trở thành giun lươn đực, cái ở thành sống tự do ở ngoại cảnh, dinh dưỡng bằng các chất hữu cơ có trong mùn, đất để tiếp tục sinh sôi, nảy nở thế hệ tự do mới ở ngoại cảnh.
Chu kỳ bất thường của giun lươn
Trong một số điều kiện nhất định như bệnh nhân được chăm sóc kém ấu trùng giun lươn trú lại quanh hậu môn chuyển dạng thành ấu trùng có thực quản hình trụ rồi gây tái nhiễm ngay cho bệnh nhân.
Khi ở ruột, giun lươn thường ở niêm mạc tá trằng, nhưng chủ yếu ở ruột non, nhưng cũng có những trường hợp giun lươn ký sinh bất thường ở thực quản, ở phổi, ở hạch bạch huyết, ở gan (Torres). Còn có những trường hợp hiếm hơn là giun lươn ở trong cơ tim (Spindler).

chu kỳ của giun lươn

Tính chất ký sinh của giun lươn
Giun lươn ký sinh ở người nhưng có thể ký sinh ở một số động vật khác như chó, khỉ, vượn.
Tuổi thọ của giun lươn rất ngắn, nhưng do người bệnh có thể tự tái nhiễm nên bệnh thường kéo dài.




Từ khóa tìm kiếm nhiều: benh giun luon, bệnh giun sán ở người

Đặc điểm sinh học và chu kỳ của giun lươn

      Giun lươn được mô tả năm 1876 và cũng trong năm này, Normana phát hiện thấy ở một lính viễn chinh Pháp cư trú tại miền Nam Việt Nam có giun lươn, kèm theo rối loạn tiêu hóa, ỉa chảy và giun lươn được coi là nguyên nhân gây bệnh ỉa chảy Nam Bộ. Sau này, nguyên nhân gây bệnh ỉa chảy Nam Bộ đã được xác định lại: bệnh ỉa chảy Nam Bộ không phải đơn thuần do giun lươn mà chỉ là một tình trạng viêm ruột sau lỵ, có giun lươn phối hợp. Ngoài thể ký sinh ở người, giun lươn còn có thể ký sinh tự do ở ngoại cảnh. Giun lươn có phân bố rộng khắp nhưng tỷ lệ nhiễm không cao.

chu kỳ của giun lươn

Hình thể
      Giun lươn đực, cái trưởng thành sống ở ruột non của ngươi, nhưng cũng có thể sống tự do ở ngoại cảnh. Ấu trùng giun lươn bắt buộc phải phát triển ở ngoại cảnh với đòi hỏi đầy đủ các điều kiện cần thiết như nhiệt độ thích hợp, ẩm độ, oxy.
Trước kia, người ta cho rằng giun lươn thuộc loại đơn giồi sinh hay trinh sinh, nghĩa là giun cái tự sinh đẻ khống cần có sự thụ tinh với giun đực. Sau này, giun lươn đực đã được phát hiện, sở dĩ giun lươn đực được phát hiện chậm vì giun lươn đực có kích thước nhở, ký sinh ở phổi. Sau khi giao hợp với giun lươn cái tại phổi, giun lươn đực bị chết rồi được tống ra ngoài theo đàm khi bệnh nhân ho.
Giun lươn miệng có hai môi. Tiếp theo miệng giun là thực quản hình ống, dài tới 1/4 chiều dài của thân; vở thân giun có khía ngang, nống. Tiếp theo thực quản là ruột, dẫn tới hậu môn ở phần cuối đuôi.
Giun cái ở thành dài khoảng 2 mm, chiều ngang khoảng 34 μm. Giun lươn cái có đầu thon dài và đuôi nhọn. Bộ máy sinh dục cái gồm ống nhở là buồng trứng, rồi đến hai ống dẫn trứng đổ vào âm đạo ở 1/3 sau của thân. Trong ống dẫn trứng thường có chứa từ 5 đến 9 trứng (Brumpt).
Giun lươn đực ở thành dài 0,7 mm, chiều ngang 36 μm, đuôi cong hình móc, có hai gai sinh dục.
Giun lươn ký sinh tự do ở ngoại cảnh có kích thước nhở hơn giun lươn ký sinh ở ruột.
Trứng giun lươn hình bầu dục, có kích thước 50 – 58 μm x 30 – 34 μm.
Ấu trùng giun lươn phát triển nhanh trong trứng. Đầu tiên ấu trùng có thực quản hình ụ, kích thước 200 μm X 14 – 16 μm. Ấu trùng giun lươn thoát vở ngay trong ruột và theo phân ra ngoài. Chỉ với những trường hợp ỉa chảy mà phân lưu thống quá nhanh mới có thể gặp trứng giun lươn trong phân. Ra ngoại cảnh, ấu trùng tiếp tục phát triển thành ấu trùng có thực quản hình trụ. Ấu trùng này có khả năng xâm nhập qua da vào người để thành giun trưởng thành ký sinh ở người hoặc ấu trùng có thể phát triển thành giun ở thành sống tự do ở ngoại cảnh.



Từ khóa tìm kiếm nhiều: tác hại của giun đũa, bệnh giun sán

Chẩn đoán và điều trị bệnh ấu trùng sán lợn

Chẩn đoán trực tiếp
      Sinh thiết lấy các nốt dưới da hoặc trong cơ bóc tách soi dưới kính lúp hoặc kính hiển vi ở độ phóng đại thấp. Nếu có ấu trùng sán lợn thì chúng ta thấy ngoài lớp vở bọc đến dịch và có nhân trong nhân bao gồm đầu sán. Chúng ta thấy 1 vòng các móc xếp thành 2 hàng và xung quanh có 4 hấp khẩu.
Lúc xét nghiệm chỉ cần soi tươi và không cần nhuộm.

      Hiện nay để chẩn đoán ấu trùng sán lợn ở thể não người ta tiến hành chụp cắt lớp sọ não (CT scanner). Qua phim chụp các nốt ấu trùng sán lợn sẽ xuất hiện rõ nhờ đó thầy thuốc có thể đánh giá được tình trạng bệnh qua hình ảnh và số lượng ấu trùng sán lợn trong não.
Các chẩn đoán gián tiếp
Chẩn đoán huyết thanh học có nhiều phương pháp:
- Ngưng kết hồng cầu gián tiếp (IHA)
- Cố định bổ thể (CF)
- Miễn dịch phóng xạ (HIA)
- Miễn dịch huỳnh quang (IF)
- Miễn dịch men (Elisa)
Theo kết quả của Bộ môn Ký sinh trùng Trường Đại học Y Hà Nội thì với kỹ thuật Elisa dùng kháng nguyên là nước nang ấu trùng sán lợn thì với nồng độ giới hạn dương tính là 1/200.
Các chẩn đoán bổ sung
- Chụp cộng hưởng từ nhân (RMI)
- Xét nghiệm nước não tủy
- Điện não đồ (EFG)
- Điện tâm đồ
- Khám mắt: soi đáy mắt

điều trị bệnh ấu trùng

Nguyên tắc điểu trị
       Bệnh ấu trùng sán lợn là một bệnh nguy hiểm người mắc bệnh này có thể đưa tới tử vong, đặc biệt là ở thể não. Tuy nhiên khó khăn khi một bệnh nhân mắc ấu trùng sán lợn thì khó biết được ấu trùng sán lợn có ký sinh ở não không, nếu chưa có chụp cắt lớp sọ não. Do đó một bệnh nhân có ấu trùng sán lợn ở dưới da thì phải có chỉ định điều trị ngay.
Trước khi điều trị ấu trùng sán lợn phải điều trị bệnh sán lợn trưởng thành ở ruột nếu có. Nếu một bệnh nhân còn có sán trưởng thành ở ruột thì nguy cơ của các đợt xuất hiện ấu trùng sán lợn ở trong cơ, tổ chức hang, ở não vẫn còn.
Qua kinh nghiệm điều trị các bệnh nhân còn có sán trưởng thành thì có nhiều trường hợp thấy xuất hiện các ấu trùng sán lợn mới không có.
Thuốc điều trị
      Từ 1980 việc sử dụng thuốc praziquantel để điều trị bệnh ấu trùng sán lợn được sử dụng rộng rãi. Đến nay praziquantel được coi là thuốc có tác dụng tốt để điều trị.
Liều lượng praziquantel 10- 15mg/kg/24 giò X 7 ngày nghỉ 3 ngày uống tiếp 3 đợt trong 1 tháng. Kết quả tốt điều trị khởi nang sán và triệu chứng (Phạm Hoàng Thế, 1987). Các tác giả Nhật Bản cũng thưòng dùng liều lượng thấp này.
Một số tác giả chủ trương tiến hành liều cao 20-25 mg/kg/24 giò. Hiệu quả đạt 90% lành bệnh. Tuy nhiên vấn đề phản ứng phụ cũng tăng. Vì vậy điều trị liều cao rất cần có sự theo dõi của thầy thuốc ở bệnh viện.
Albendazol: Albendazol là một dẫn xuất của benzimidazol loại thuốc này được dùng chủ yếu điều trị các loại giun sán từ 1982.
Albendazol: được các tác giả dùng để điều trị bệnh ấu trùng sán lợn. Arabinda.M và Nibedita.B đã điều trị vối liều 15mg/kg/ngày trong 28 ngày kêt quả tốt.
     Ở Việt Nam, Ngô Đăng Thục và Kiều Tùng Lâm (1992) đã điều trị bệnh ấu trùng sán lợn vối albendazol liều 15mg/kg/ngày trong 20 ngày, kéo dài 3 đợt, mỗi đợt cách nhau 20 ngày. Kết quả trên CT scanner 50% diệt hết nang sán não. Trong khi đó praziquantel là 86%.



Từ khóa tìm kiếm nhiều: bệnh sán lá gan, benh giun san

Thứ Hai, 1 tháng 6, 2015

Triệu chứng lâm sàng của bệnh ấu trùng sán lợn

     Tùy từng vị trí ấu trùng sán lợn cư trú mà biểu hiện lâm sàng khác nhau
Thể bệnh ấu trùng sán lợn dưới da, bắp cơ
     Biểu hiện là những nang nhở (Kyste) sờ thấy dưới da hoặc lẩn sấu trong cơ. Nang thường to bằng hạt đậu không đau, di động, bóp chặt có hiện tượng căng phồng của một túi nước. Nói chung bệnh nhân không thấy có triệu chứng gì đặc biệt mà do bệnh nhân sờ thấy, tuy nhiên trong các trường hợp nhiều kén bệnh nhân có thể cảm thây mởi, hoặc có hiện tượng giật cơ.
Các cơ hay có nang sớm là cơ hoành, cơ lưỡi, cơ Delta, hai chi trên, rải rác vùng ngực bụng, lưng. Các nang ấu trùng sán lợn không đối xứng hai bên, ở chi dưới thường ít hơn chi trên. Chúng ta có thể gặp dưới da đầu, vùng mặt, vùng gáy. Phạm Hoàng Thế và Phạm Trí Tuệ, 1985 (Qua 61 bệnh nhân điều trị tại Bộ môn Ký sinh trùng Trường Đại học Y Hà Nội).

Triệu chứng lâm sàng của bệnh ấu trùng

Thể bệnh ấu trùng sán lợn ở cơ quan
Mắt: Nang sán có thể ở trong ổ mắt gây lồi nhãn cầu làm lệch trục nhãn cầu bệnh nhân có thể bị lác, nhìn đôi. Nang sán có thể ở trong nhãn cầu, bệnh nhân có thể thấy xuất hiện mờ mò, và lúc khám có thể thấy ấu trùng sán lợn di chuyển trong nhãn cầu. Đặc biệt quan trọng là ấu trùng sán lợn có thể ký sinh làm bong võng mạc, đĩa thị giác làm thị lực giảm nhiều có thể gây ra mù mắt.
Ở tim: Tuỳ theo ấu trùng sán lợn ký sinh, thường ấu trùng sán lợn ký sinh trong cơ tim dẫn tới gây rối loạn nhịp tim. Ấu trùng sán lợn ky sinh trong tim có thể ảnh hưởng tới van tim, tiến tới suy tim (tuy nhiên tỷ lệ rất thấp).
Thể bệnh ấu trùng sán lợn ở não
     Não là vị trí thường gặp nhất mà ấu trùng sán lợn cư trú trong hệ thần kinh trung ương. Qua nghiên cứu của Georges.F, Chi- sbing.z và cộng sự (1982) thấy 60 – 96% các trường hợp có ấu trùng sán lợn ký sinh ở não.
Do bị ký sinh ở não ấu trùng sán lợn gây ra các tổn thương tổ chức thần kinh. Tùy theo giai đoạn phát triển của kén sán mà mức độ biểu hiện triệu chứng thần kinh khấc nhau. Các biểu hiện thường gặp (Phạm Hoàng Thế -Phạm Trí Tuệ, 1985):
Nhức đầu 48,4%
Động kinh 6,2%
Rối loạn tâm thần 5,2%
Rối loạn thị giác 15,6%
Suy nhược cơ thể, giảm trí nhớ 28,1% Co giật cơ 34,3%
Triệu chứng rất đáng chú ý cho bệnh nhân, ấu trùng sán lợn não là nhức đầu, kèm theo hiện tượng giật cơ. Nặng thêm nữa là xuất hiện động kinh, mất trí nhớ.
Với phương pháp chẩn đoán bằng chụp cắt lốp sọ não (Computer tomographie) Nguyễn Văn Đãng và Ngô Đăng Thục chia làm 4 giai đoạn tiến triển như sau:
- Giai đoạn nang (Vesicular stage).
- Giai đoạn nang keo (Colloidal vesicular stage).
- Giai đoạn nốt hạt (Graneolàr nodular stage).
- Giai đoạn nốt vôi (Nodulàr calcified stage).


Đọc thêm tại:

Sự phân bố của bệnh ấu trùng sán lợn

      Qua thực tế người ta thấy ấu trùng sán lợn không ký sinh ở gan và tiểu não. Trong trường hợp nếu người ăn phải trứng sán lợn thì người cũng sẽ bị nhiễm ấu trùng sán lợn giống như lợn mà ta đã nói đến ở trên.
     Như vậy người vừa là vật chủ chính và cũng có thể vừa là vật chủ phụ của sán dây lợn (Taenia solium). Thời gian sống của sán lợn trưởng thành ở người là có thể trên 10 năm và ấu trùng cũng vậy.
Nhiều trường hợp trên một bệnh nhân nhiễm cả sán trưởng thành cả ấu trùng sán lợn. Tuy nhiên trên thực tế thường gặp bệnh ấu trùng sán lợn là thứ phát sau tiền sử có mắc bệnh sán trưởng thành.
Một số tác giả cho rằng người có sán trưởng thành dễ có nguy cơ mắc bệnh ấu trùng sán lợn. Thông thường các đốt sán già theo phân hoặc tự động bò qua hậu môn ra ngoại cảnh. Nhưng nếu có lý do gì đó các đốt sán ở ruột bị nhu động ruột đẩy lên dạ dày (khi nôn…). Lúc đó các đốt bị phá hủy và không khác gì một người ăn phải trứng sán.

Sự phân bố của bệnh ấu trùng sán lợn

     Qua thống kê của Phạm Hoàng Thế (1985) thấy 54% bệnh nhân mắc ấu trùng sán lợn là có tiền sử hoặc đang mắc bệnh sán lợn trưởng thành.
Bệnh ấu trùng sán lợn có thể gặp mọi nơi trên thế giới. Tuy nhiên bệnh xuất hiện nhiều ở một số vùng như: Nam Mỹ, châu Phi, Đông Nam châu Á và một số” nước Đông Âu.
Bệnh ít gặp ở các nước Tây Âu, Bắc Âu, Bắc Mỹ, Nhật Bản. Tuy nhiên một số công trình nghiên cứu ở Mỹ cho thấy một số người Mỹ mắc bệnh do di cư từ các nước khác vào.
Điều kiện địa lý là một phần còn chủ yếu bệnh liên quan tới các tập thể, cộng đồng còn có tập quán ăn thịt lợn chưa nấu chín, vấn đề nuôi lợn thả rông, vấn đề trồng trọt sử dụng phân người. Bệnh gặp nhiều ở những vùng dân cư sống trong điều kiện vệ sinh môi trường kém, xử lý chất thải không hợp vệ sinh, vấn đề chăn nuôi súc vật còn thả rông hoặc sống lẫn lộn với người.
Việt Nam bệnh ấu trùng sán lợn cũng liên quan tới bệnh sán lợn. Ở miền núi và cao nguyên là những nơi có người mắc bệnh sán lợn cao 3,8- 4% có nơi lên tới 6%, đồng bằng 0,5 -2% (Viện Sốt rét – Ký sinh trùng – Côn trùng Trung ương, 1993). Tuy nhiên qua điều tra tính theo tỉ lệ bệnh nhân tới điều trị, kết quả cho thấy Hà Bắc là một trong số tỉnh có nhiều bệnh nhân mắc ấu trùng sán lợn hơn cả.
Qua hai kết quả trên cũng chưa thể nói các tỉnh miền núi là ít bệnh ấu trùng sán lợn, nguyên do còn phụ thuộc vào màng lưới phát hiện bệnh, còn yếu tố thêm vào là điều kiện đi lại tôn kém của bệnh nhân.



Từ khóa tìm kiếm nhiều: sán lá gan nhỏ, trieu chung giun san