Thứ Hai, 1 tháng 6, 2015

Triệu chứng lâm sàng của bệnh ấu trùng sán lợn

     Tùy từng vị trí ấu trùng sán lợn cư trú mà biểu hiện lâm sàng khác nhau
Thể bệnh ấu trùng sán lợn dưới da, bắp cơ
     Biểu hiện là những nang nhở (Kyste) sờ thấy dưới da hoặc lẩn sấu trong cơ. Nang thường to bằng hạt đậu không đau, di động, bóp chặt có hiện tượng căng phồng của một túi nước. Nói chung bệnh nhân không thấy có triệu chứng gì đặc biệt mà do bệnh nhân sờ thấy, tuy nhiên trong các trường hợp nhiều kén bệnh nhân có thể cảm thây mởi, hoặc có hiện tượng giật cơ.
Các cơ hay có nang sớm là cơ hoành, cơ lưỡi, cơ Delta, hai chi trên, rải rác vùng ngực bụng, lưng. Các nang ấu trùng sán lợn không đối xứng hai bên, ở chi dưới thường ít hơn chi trên. Chúng ta có thể gặp dưới da đầu, vùng mặt, vùng gáy. Phạm Hoàng Thế và Phạm Trí Tuệ, 1985 (Qua 61 bệnh nhân điều trị tại Bộ môn Ký sinh trùng Trường Đại học Y Hà Nội).

Triệu chứng lâm sàng của bệnh ấu trùng

Thể bệnh ấu trùng sán lợn ở cơ quan
Mắt: Nang sán có thể ở trong ổ mắt gây lồi nhãn cầu làm lệch trục nhãn cầu bệnh nhân có thể bị lác, nhìn đôi. Nang sán có thể ở trong nhãn cầu, bệnh nhân có thể thấy xuất hiện mờ mò, và lúc khám có thể thấy ấu trùng sán lợn di chuyển trong nhãn cầu. Đặc biệt quan trọng là ấu trùng sán lợn có thể ký sinh làm bong võng mạc, đĩa thị giác làm thị lực giảm nhiều có thể gây ra mù mắt.
Ở tim: Tuỳ theo ấu trùng sán lợn ký sinh, thường ấu trùng sán lợn ký sinh trong cơ tim dẫn tới gây rối loạn nhịp tim. Ấu trùng sán lợn ky sinh trong tim có thể ảnh hưởng tới van tim, tiến tới suy tim (tuy nhiên tỷ lệ rất thấp).
Thể bệnh ấu trùng sán lợn ở não
     Não là vị trí thường gặp nhất mà ấu trùng sán lợn cư trú trong hệ thần kinh trung ương. Qua nghiên cứu của Georges.F, Chi- sbing.z và cộng sự (1982) thấy 60 – 96% các trường hợp có ấu trùng sán lợn ký sinh ở não.
Do bị ký sinh ở não ấu trùng sán lợn gây ra các tổn thương tổ chức thần kinh. Tùy theo giai đoạn phát triển của kén sán mà mức độ biểu hiện triệu chứng thần kinh khấc nhau. Các biểu hiện thường gặp (Phạm Hoàng Thế -Phạm Trí Tuệ, 1985):
Nhức đầu 48,4%
Động kinh 6,2%
Rối loạn tâm thần 5,2%
Rối loạn thị giác 15,6%
Suy nhược cơ thể, giảm trí nhớ 28,1% Co giật cơ 34,3%
Triệu chứng rất đáng chú ý cho bệnh nhân, ấu trùng sán lợn não là nhức đầu, kèm theo hiện tượng giật cơ. Nặng thêm nữa là xuất hiện động kinh, mất trí nhớ.
Với phương pháp chẩn đoán bằng chụp cắt lốp sọ não (Computer tomographie) Nguyễn Văn Đãng và Ngô Đăng Thục chia làm 4 giai đoạn tiến triển như sau:
- Giai đoạn nang (Vesicular stage).
- Giai đoạn nang keo (Colloidal vesicular stage).
- Giai đoạn nốt hạt (Graneolàr nodular stage).
- Giai đoạn nốt vôi (Nodulàr calcified stage).


Đọc thêm tại:

Sự phân bố của bệnh ấu trùng sán lợn

      Qua thực tế người ta thấy ấu trùng sán lợn không ký sinh ở gan và tiểu não. Trong trường hợp nếu người ăn phải trứng sán lợn thì người cũng sẽ bị nhiễm ấu trùng sán lợn giống như lợn mà ta đã nói đến ở trên.
     Như vậy người vừa là vật chủ chính và cũng có thể vừa là vật chủ phụ của sán dây lợn (Taenia solium). Thời gian sống của sán lợn trưởng thành ở người là có thể trên 10 năm và ấu trùng cũng vậy.
Nhiều trường hợp trên một bệnh nhân nhiễm cả sán trưởng thành cả ấu trùng sán lợn. Tuy nhiên trên thực tế thường gặp bệnh ấu trùng sán lợn là thứ phát sau tiền sử có mắc bệnh sán trưởng thành.
Một số tác giả cho rằng người có sán trưởng thành dễ có nguy cơ mắc bệnh ấu trùng sán lợn. Thông thường các đốt sán già theo phân hoặc tự động bò qua hậu môn ra ngoại cảnh. Nhưng nếu có lý do gì đó các đốt sán ở ruột bị nhu động ruột đẩy lên dạ dày (khi nôn…). Lúc đó các đốt bị phá hủy và không khác gì một người ăn phải trứng sán.

Sự phân bố của bệnh ấu trùng sán lợn

     Qua thống kê của Phạm Hoàng Thế (1985) thấy 54% bệnh nhân mắc ấu trùng sán lợn là có tiền sử hoặc đang mắc bệnh sán lợn trưởng thành.
Bệnh ấu trùng sán lợn có thể gặp mọi nơi trên thế giới. Tuy nhiên bệnh xuất hiện nhiều ở một số vùng như: Nam Mỹ, châu Phi, Đông Nam châu Á và một số” nước Đông Âu.
Bệnh ít gặp ở các nước Tây Âu, Bắc Âu, Bắc Mỹ, Nhật Bản. Tuy nhiên một số công trình nghiên cứu ở Mỹ cho thấy một số người Mỹ mắc bệnh do di cư từ các nước khác vào.
Điều kiện địa lý là một phần còn chủ yếu bệnh liên quan tới các tập thể, cộng đồng còn có tập quán ăn thịt lợn chưa nấu chín, vấn đề nuôi lợn thả rông, vấn đề trồng trọt sử dụng phân người. Bệnh gặp nhiều ở những vùng dân cư sống trong điều kiện vệ sinh môi trường kém, xử lý chất thải không hợp vệ sinh, vấn đề chăn nuôi súc vật còn thả rông hoặc sống lẫn lộn với người.
Việt Nam bệnh ấu trùng sán lợn cũng liên quan tới bệnh sán lợn. Ở miền núi và cao nguyên là những nơi có người mắc bệnh sán lợn cao 3,8- 4% có nơi lên tới 6%, đồng bằng 0,5 -2% (Viện Sốt rét – Ký sinh trùng – Côn trùng Trung ương, 1993). Tuy nhiên qua điều tra tính theo tỉ lệ bệnh nhân tới điều trị, kết quả cho thấy Hà Bắc là một trong số tỉnh có nhiều bệnh nhân mắc ấu trùng sán lợn hơn cả.
Qua hai kết quả trên cũng chưa thể nói các tỉnh miền núi là ít bệnh ấu trùng sán lợn, nguyên do còn phụ thuộc vào màng lưới phát hiện bệnh, còn yếu tố thêm vào là điều kiện đi lại tôn kém của bệnh nhân.



Từ khóa tìm kiếm nhiều: sán lá gan nhỏ, trieu chung giun san

Tìm hiểu bệnh ấu trùng sán lợn

       Bệnh ấu trùng sán lợn là một bệnh nguy hiểm đối với con người. Bệnh này có từ lâu và có ở hầu hết các nơi trên thế giới, đặc biệt liên quan tới giống lợn, liên quan tới phong tục tập quán nuôi lợn thả rông của một số dân tộc, hoặc do điều kiện vệ sinh kém của con người trong những thời gian sơ khai nước ta cũng vạy, bệnh ấu trùng sán lợn chắc chắn có và có từ lâu. Tuy nhiên trong các y văn mới nhắc tới nhiều từ những năm 1980.

     Ở việt Nam từ những năm 1970 tới nay đã có các công trình nghiên cứu về bệnh ấu trùng sán lợn. Tuy nhiên ban đầu các thầy thuốc chỉ mói đặt vấn đề điều trị bệnh ấu trùng sán lợn thể dưới da. ở bệnh viện và Bộ môn Ký sinh trùng – TrườngĐại học Y Hà Nội đã tiêm vào kén bằng thuốc chloroquin phối hợp uống DEC, kết quả đạt 30% (Phạm Hoàng Thế, 1986).

Từ 1980 cũng đã tiến hành điều trị bệnh nhân ấu trùng sán lợn bằng praziquantel đạt hiệu quả tốt trong các trường hợp ấu trùng sán lợn ở não (Phạm Hoàng Thế – Phạm Trí Tuệ, 1987).

Năm 1992 Hoàng Đức Kiệt đã công bố kết quả về chẩn đoán bệnh ấu trùng sán lợn bằng CT Scanner (các tác giả khác cũng đã đi sâu vào bệnh ấu trùng sán lợn: Ngô Đăng Thục, Nguyễn Văn Đăng, Nguyễn Phúc Lập 1994)

 bệnh ấu trùng sán lợn

ĐẶC ĐIỂM BỆNH SINH

Sán lợn (Taenia solium)

Sán lợn (Taenia solium) là loại sán dây phổ biến trong nhân dân ta, bệnh có tỷ Lệcao ởcác vùng núi, vùng liên quan tới phong tục tập quán nuôi lợn thả rông đồng thời có thói quen ăn các món thịt lợn chưa được nấu chín (nem, chạo tiết canh …).

Ấu trùng sán lợn

Nếu lợn ăn phải trứng sán dầy lợn, thường là do các đốt sán bị phân hủy giải phóng trứng ra ngoại cảnh; cũng có thể lợn ăn phân người hoặc do lợn được thả rông ăn phải các đốt sán chứa trứng. Sau khi ăn phải trứng sán dây, trứng này sẽ vào ruột trở thành ấu trùng. Các ấu trùng sán sẽ theo hệ bạch mạch hoặc xuyên các lớp tổ chức để đi đến ký sinh ở cơ vân của lợn.

Ấu trùng sán lợn thường hay ký sinh tại các cơ hoành, cơ lưỡi của lợn. Ngoài ra ấu trùng sán lợn cũng có thể ký sinh tới tất cả các cơ vân vùng tay, chân, ở thân thể. Ấu trùng ký sinh có thể ở sâu trong bắp cơ vân hoặc cũng có thể ở lốp ngoài của cơ, dưới da.

Trong trườnghợp lợn bị bệnh ấu trùng sán lợn người ta thường gọi là “lợn gạo”. Ngoài cơ vân, ấu trùng sán lợn có thể ký sinh tại các cơ quan nội tạng: tim, phổi, thận, lách và đặc biệt là ởmắt, não, cá biệt có thể ở tủy sống.



Từ khóa tìm kiếm nhiều: giun tóc, bệnh giun sán ở người

Khả năng phát triển của trứng và ấu trùng

     Ở ngoại cảnh sau 1 tháng, trứng mất khả năng sống. Trứng có sức đề kháng cao với hóa chất thông thường: trong dung dịch formol, cresyl 5% sau 2 giờ trứng mối bị diệt. Nhiệt độ 50 – 60°c, ấu trùng sán dây lợn bị chết sau 1 giờ. 

Phân bố

Bệnh phân bố khắp nơi, tùy thuộc vào tập quán vệ sinh ăn uống. Ở Việt Nam bệnh sán dây lợn thưòng gặp nhiều ở miền núi (6%). Tỷ lệ bệnh sán dây lợn (22%) ít hơn so với sán dây bò (78%).

Bệnh sinh

Sản phẩm chuyển hóa và các chất tiết của sán gây độc cho hầu hết các hệ thống và tổ chức của cơ thể. Thực nghiệm cho thấy dịch tiết từ sán gây tổn hại hệ thông tim mạch, cơ quan tạo máu, hệ thông thần kinh và các tuyến nội, ngoại tiết. Bản thân ký sinh trùng cũng gây tác hại cơ giới đáng kể: gây đau bụng, đau chủ yếu ở vùng hởi tràng, đôi khi giống như cơn đau ruột thừa. Cơ thể sán có thể gây tắc hoặc bán tắc ruột. Bệnh nhân còn bị suy dinh dưỡng do sán chiếm thức ăn.
Triệu chứng lâm sàng
Bệnh nhân đầy bụng, đau vùng rốn, dần dần bệnh nhân thấy yếu mệt, chóng mặt, hoa mắt, nhức đầu… Ở những bệnh nhân bị mắc bệnh sán dây bò còn có cảm giác khó chịu, bứt rứt ở vùng hậu môn do đốt sán khi rụng khởi cơ thể sán, tự bò qua hậu môn để ra ngoài.
Khoảng 25% bệnh nhân bị mắc sán dây có huyết áp hạ, thiếu máu….
Ở những bệnh nhân bị mắc bệnh ấu trùng sán dây lợn, tùy theo vị trí ký sinh của ấu trùng mà có thể có những bệnh cảnh lâm sàng khác nhau.

Khả năng phát triển của trứng

CHẨN ĐOÁN

Để chẩn đoán xác định bệnh sán dây trưởng thành, phải xét nghiệm phân tìm đốt sán.
Để chẩn đoán xác định bệnh ấu trùng sán dây lợn, phải làm các xét nghiệm như: sinh thiết, các phản ứng miễn dịch (huỳnh quang, ELISA,…)> siêu âm, chụp CT scaner…

ĐIỂU TRỊ

Niclosamid (Yomesan, Radeverm, Phenasal), viên 0,5g.
Buổi chiều trước ngày điều trị, bệnh nhân ăn cháo. Sáng sớm, vào lúc đói, tán thuốc thành bột, hòa với nưốc đun sôi để nguội, uống với liều dưới đây:
- Dưới 2 tuổi: uống mỗi lần 1/2 viên X 2 lần, cách nhau 1 giò.
- Từ 2 – 8 tuổi: 1 viên X 2 lần, cách nhau 1 giò.
- Trên 8 tuổi: 2 viên X 2 lần, cách nhau 1 giờ.
Thuốc cho kết quả điều trị 66,1%-
Praziquantel (Biltricid, Distocid), viên 600mg
Để điều trị bệnh sán dây trưởng thành, cho bệnh nhân uống thuốc với liều lượng một lần là 10 mg/kg cân nặng (trung bình mỗi người 1 viên 600mg); tỷ lệ ra đầu sán là 100% với cả hai loại sán dây lợn và sán dây bò.
Để điều trị bệnh ấu trùng sán dây lợn, cho bệnh nhân uống praziquantel với liều 5 mg/kg cân nặng hàng ngày, chia thành 3 liều, uống trong 15 ngày. Trong quá trình điều trị phải có sự theo dõi sát sao của thầy thuốc vì phản ứng có thể gây tử vong cho bệnh nhân.

PHÒNG BỆNH

- Phải quản lý phân người chặt chẽ, nhất là không để cho lợn án phân người.
- Không để lợn thả rông.
- Phải tăng cường công tác kiểm tra sát sinh tại các lò mổ để loại bở những lợn hoặc bò có mầm bệnh.
- Vệ sinh ăn uống: không ăn thịt lợn, thịt bò sông hoặc nấu chưa chín; không ăn tiết canh lợn; không ăn rau sông, uống nước lã.
- Phát hiện và điều trị những người có bệnh.



Từ khóa tìm kiếm nhiều: sán lá máu, bệnh giun sán

Diễn biến chu kỳ của sán dây

      Sán dây trưởng thành không đẻ trứng. Trứng sán nằm trong các đốt già; đối già rụng ra khởi thân sán rởi theo phân ra ngoài. Thông thường, các đốt già của sán dây lợn thưòng thụ động theo phân ra ngoài; bệnh nhân thường không dễ nhận ra là mình bị bệnh. Các đốt già của sán dây bò thường tự động chui qua hậu môn để ra ngoài vào bất cứ thòi điểm nào trong ngày nên bệnh nhân dễ phát hiện mình bị mắc bệnh.

     Người ăn phải ấu trùng sán dây lợn (hoặc ấu trùng sán dây bò) có trong thịt lợn (hoặc thịt bò), chưa được nấu chín, khi tới ruột non, ấu trùng sán sẽ phát triển thành sán trưởng thành sau 2,5-4 tháng.
Người ăn phải trứng sán dây lợn, có lẫn trong rau, quả tươi hoặc uống nước lã có trứng sán, khi trứng sán vào tối dạ dày, ấu trùng sán thoát vở, xuyên qua niêm mạc ruột, theo tuần hoàn bạch huyết hoặc xuyên tổ chức để tói cư trú dưới da, tổ chức cơ vân hay các cơ quan nội tạng như não, nhãn cầu…, lúc đó, người sẽ mắc bệnh ấu trùng sán dây lợn. Cũng có thể, người ăn tiết canh lợn có ấu trùng sán dây lợn, vào ruột, ấu trùng sán dây lợn tiếp tục chu kỳ để phát triển thành ấu trùng sán dây lợn, cư trú tại tổ chức dưới da, cơ vân, nội tạng… Ngoài ra, người có thể mắc bệnh ấu trùng sán dây lợn do đốt sán già (chứa đầy trứng) ở ruột trào ngược lên dạ dày khi bệnh nhân bị nôn, làm giải phóng trứng tại dạ dày….

Diễn biến chu kỳ của sán dây

Tuổi thọ của sán dây

     Sán dây lợn. sán dây bò trưởng thành có thể sống tối hàng chục năm. Ấu trùng sán dây lợn cũng có khả năng sông trong cơ thể vài chục năm.

Đặc điểm dich tễ

      Để thực hiện chu kỳ của ký sinh trùng cần phải có vật chủ trung gian (lợn, bò). Người gần như là vật chủ chính của sán dây trưởng thành và là nguồn lây nhiễm.
Người bị mắc sán dây trưởng thành khi ăn phải thịt lợn hoặc thịt bò có nang ấu trùng sán mà không được nấu kỹ. Như vậy, cơ chế của sự lây truyền bệnh là đường ăn uống. Ký sinh trùng trưởng thành về sinh dục và bắt đầu đứt các đốt già sau 3 tháng kể từ khi người ăn phải thịt có nang ấu trùng sán.
Người mắc sán dây phần nhiều là nam giới, ở tuổi từ 21 đến 40 tuổi (nam mắc 75%, nữ mắc 25%).



Từ khóa tìm kiếm nhiều: sán lá gan, benh giun san

Thứ Bảy, 30 tháng 5, 2015

Đặc điểm sinh học và chu kỳ của bệnh sán dây

      Bệnh sán dây bao gồm hai bệnh: bệnh do sán dây lợn và bệnh do sán dây bò gây ra. Lâm sàng của hai bệnh do sán dây trưởng thành tiến triển như nhau, đều gây ra hội chứng suy dinh dưỡng và suy nhược thần kinh.

Hình thể

Sán dây lợn (Taenia solium): cơ thể gởm khoảng 900 đốt, đốt trưởng thành dài 10 – 12 mm. Tử cung chia làm 12 nhánh. Đầu sán ngoài 4 giác bám như đầu sán dây bò, còn có thêm hai vòng móc.
Sán dây bò (Taenia saginata): dài từ 4 – 12 m. Thân sán gởm trên 1.000 đốt, đốt trưởng thành dài 20 – 30 mm. Tử cung chia thành khoảng 32 nhánh. Đầu sán nhở, có 4 giác bám.
Hình 46. Hình thể sán dây lợn (T.solium), sán dây bò (T. saginata)

 chu kỳ của bệnh sán dây

Chu kỳ

- Muốn thực hiện chu kỳ, mầm bệnh bắt buộc phải phát triển trong vật chủ trung gian (lợn hoặc bò).
- Trứng sán dây không cần đòi hởi thòi gian phát triển ở ngoại cảnh.
- Người là vật chủ chính của sán dây lợn và sán dây bò. Người cũng có thể là vật chủ phụ của sán dây lợn (trong trường hợp người mắc bệnh ấu trùng sán dây lợn do ăn phải trứng sán). Người không mắc bệnh ấu trùng sán dây bò.
Vị trí ký sinh
- Sán dây lợn, sán dây bò trưởng thành ký sinh ở ruột non, dinh dưỡng bằng thẩm thấu các chất dinh dưỡng ở trong ruột.
- Ấu trùng sán dây dinh dưỡng bằng thẩm thấu các chất dinh dưỡng tại cơ quan mà ký sinh trùng ký sinh.
Đường xâm nhập
- Thụ động, qua đường ăn uống.
- Người mắc sán dây lợn hoặc sán dây bò trưởng thành do ăn phải thịt lợn (hoặc thịt bò) có chứa nang ấu trùng sán dây lợn (hoặc nang ấu trùng san dây bò) chưa được nấu chín dưới mọi hình thức.
- Người mắc bệnh ấu trùng sán dây lợn do ăn phải trứng sán dây lợn có trong rau, quả tươi, uống nước lã có lẫn trứng sán.
- Ngoài ra, người có thể bị mắc bệnh ấu trùng sán dây lợn do đốt sán già chứa trứng ở ruột trào ngược lên dạ dày khi bệnh nhân bị nôn, làm giải phóng trứng tại dạ dày….


Đọc thêm tại:

Diễn biến và cách điều trị bệnh sán lá ruột

       Bệnh sán lá ruột thường diễn biến làm 3 giai đoạn: giai đoạn khởi phát, giai đoạn toàn phát và giai đoạn kết thúc. Ở giai đoạn khởi phát, bệnh nhân thường chỉ có những triệu chứng nhẹ: mệt mỏi, sức khỏe giảm sút, thiếu máu nhẹ. Ở giai đoạn toàn phát, bệnh nhân thấy đau bụng kèm theo ỉa chảy.Tình trạng đau bụng và ỉa chảy xảy ra thất thường. Phân lỏng, không có máu nhưng có nhiều chất nhầy và có lẫn nhiều thức ăn không tiêu, ỉa chảy có thể kéo dài nhiều ngày hoặc nhiều tuần lễ. Đau bụng thường đau ở vùng hạ vị, đau kèm theo ỉa chảy và có thể xảy ra những cơn đau dữ dội. Bụng bị trướng, nhất là với trẻ em; sức khỏe toàn thân giảm sút nhanh chóng. Nếu sán nhiễm nhiều và nếu không được điều trị, bệnh sẽ chuyển sang giai đoạn nặng với những triệu chứng phù nề toàn thân, tràn dịch ở nhiều nội tạng, nhất là tim phổi, cổ trướng và bệnh nhân có thể chết trong tình trạng suy kiệt.

mức độ phân bố sán lá ruột

CHẨN ĐOÁN
Chẩn đoán lâm sàng thường dựa vào những triệu chứng ỉa chảy, phù nề, suy nhược, tăng bạch cầu ái toan.
Chẩn đoán khẳng định dựa vào xét nghiệm phân tìm trứng – trứng sán lá ruột có hình thể và kích thước dễ nhận.
ĐIỂU TRỊ
- Hexylresorcinol: 0,4 g cho trẻ em từ 1 – 7 tuổi, 1 g cho người trên 13 tuổi.
Hiện nay thuốc này ít dùng.
- Tetrachloroetylen (Didaken): 0,1 ml/kg. Người lớn tối đa 4 ml. uống vào buổi sáng, uống 2 ngày liền. Hiện nay thuốc này ít dùng.
- Niclosamid, viên nén 500mg. Người lớn uống vào buổi sáng lúc đói 01 gam (02 viên loại 500 mg), nhai kỹ thuốc, rồi uống với một ít nước, 2 giò sau lại uống thêm 02 viên nữa. Trẻ em từ 2 – 7 tuổi uống 02 viên và dưới 2 tuổi uống 01 viên. Cần nghiền nhở thuốc, rồi hòa tan một chút sữa để cho trẻ dễ uống.
- Diclorophen, viên bọc đường 500 mg. Người lớn uống liều duy nhất 14 viên (viên 500 mg), chia làm vài lần uống trong 24 giờ. Trẻ em cứ 1 tuổi uống 01 viên.
- Praziquantel, viên nén 500 mg. Trẻ em trên 2 tuổi và người lớn dùng liều như nhau: uống liều duy nhất 40 mg/kg cân nặng.
PHÒNG BỆNH
Chủ yếu không ăn các loại cây thủy sinh không được nấu chín. Ngoài ra cần quản lý phân, không dùng phân bón cho cây trồng ở dưới nước, điều trị những người có bệnh.



Từ khóa tìm kiếm nhiều: sán lá gan lớn, trieu chung giun san