Thứ Năm, 18 tháng 6, 2015

Lịch sử phát triển của dịch tễ học thời kì sơ khai

         Dịch tễ học là một khoa học y học rất cổ. Từ hơn 2000 năm, Hipocrate là người đầu tiên đặt nền móng cho khoa học này. Ông đã đưa ra quan niệm rằng: sự phát triển bệnh tật ở người có thể liên quan đến những yếu tố của môi trường bên ngoài của một cá thể, nhưng vào thời đó và một thời gian dài tiếp theo dịch tễ học đã phát triển rất chậm.

         Để đi tối được quan niệm dịch tễ học hiện đại như ngày nay, lịch sử phát triển của dịch tễ học trải qua nhiều thời kỳ, nổi bật nhất là ba cột mốc đánh dâu những giai đoạn phát triển đặc biệt góp phần hình thành cơ sở phát triển của dịch tễ học hiện đại: John Grauntj William Farr và John Snow.Jfc, John Graunt là người đầu tiên đã đinh lương các hiện tượng sức khoẻ và bắt dầu chú ý rằng tần sô’ mắc bệnh khác nhau ồ các lứa tuổi khác nhau, giới tính khác nhau.

Lịch sử phát triển của dịch tễ học

         Năm 1662, ông đã phân tích số sinh, tử ồ Luân Đôn và thấy rằng cả sinh lẫn tử ở nam đều trội hơn nữ, tỷ lệ chết ở trẻ em cao hơn các lứa tuổi khác. Ngoài ra, J. Graunt còn thấy rằng: sô’ mắc dịch hạch ở Luân Đôn có khác nhau ởcác năm khác nhau và ông cũng đã nêu lên các đặc điểm của những năm có dịch xảy ra.

        Năm 1893, William Farr đã thiết lập một hệ thông đếm số chết và nguyên nhân chết ở cả Anh và xứ Wales liền trong 40 năm và nhấn mạnh đêh sự khác nhau ở những người có vợ chồng với những người sống độc thân, ở những nghề nghiệp khác nhau, tỷ lệ chết do mắc tả ồ các độ cao khác nhau…

        Ông đã đóng góp rất nhiều cho việc hình thành về phương pháp nghiên cứu dịch tễ học hiện đại như định nghĩa quần thể có nguy cơ, phương pháp so sánh giữa các đối tượng khác nhau, chọn nhóm so sánh thích hợp và rất coi trọng đến các yếu tố có thể liên quan đến tình trạng sức khoẻ như tuổi, thời gian phơi nhiễm…. Như vậy, cả John Graunt và William Farr đã đề cập ở các mức độ khác nhau đến sự phân bố tần số và coi trọng sự phân bố tần số này là khác nhau ở những thời gian khác nhau, ở những nơi khác nhau và ở những nhóm người khác nhau, nhưng chưa lý giải được tại sao lại có sự khác nhau đó.



Từ khóa tìm kiếm nhiều: sán lá gan nhỏ, trieu chung giun san

Quá trình phát triển của dịch tễ học

        Khoảng hai mươi năm sau w. Farr, John Snow là người đầu tiện đưa ra giả thuyết về một yếu tố bên ngoài có liên quan chặt chẽ với một bệnh. John Snow đã bỏ ra nhiều công sức quan sát dịch tả ở Luân Đôn vào những năm bôn mươi, năm mươi của thê’ kỷ XIX. Lúc đó, tất cả các công ty cung cấp nưốc cho Luân Đôn là Lambeth, South Wark và Vauxhall đều lấy nước từ sông Thames – điểm bị nhiễm bẩn nặng nề của nước thải thành phố.

        Sau đó giữa năm 1849 – 1854, công ty Lambeth đổi nguồn lên thượng lưu, nơi không bị nhiễm nước thải của thành phố thì thấy tỷ lệ mắc tả giảm hẳn. Tất cả những quan sát đó đã dẫn đến giả thuyết của John Snow là nước của các công ty cung cấp nưốc South Wark và Vauxhall đã làm tăng nguy cơ mắc tả. Ông cũng nhấn mạnh rằng có thể có các yếu tô’ khác tham gia vào nữa nhưng rõ ràng là tả lan truyền qua nước (mặc dầu lúc đó cơ chê’ lan truyền theo nưốc còn chưa được biết). Đây là một giả thuyết mà sau đó đươc kiểm đinh và vẫn còn giữ nguyên vẹn giá trị đến ngày nay.

Quá trình phát triển của dịch tễ học

       Rõ ràng John Snow là người đầu tiên đã nêu đầy đủ các thành phần của định, nghĩa dịch tễ học và đã quan niệm đúng định nghĩa của dịch tễ học. (Dịch tễ học hiện đại đang sử dụng ngày nay) đã không những hình thành một giả thuyết mà còn kiểm định giả thuyết đó nữa. Từ đó đến nay, với sự phát triển mạnh mẽ của các khoa học cơ bản và y học cơ sỏ, dịch tễ học đã có thể cung cấp những phương pháp dịch tễ học tin cậy trong việc nghiên cứu của tất cả các lĩnh vực y học.

         Thành tựu đáng chú ý nhất là các phương pháp thiết kế nghiên cứu dịch tễ học và các kỹ thuật thu thập, phân tích các dữ kiện dịch tễ đã tạo điều kiện dễ dàng cho việc đánh giá vai trò của các yếu tố nguy cơ đối với các bệnh mạn tính và hiệu quả của các biện pháp can thiệp điều trị và dự phòng. Với sự phát triển của máy vi tính, các kỹ thuật và các phương pháp dịch tễ học ngày nay có thể triển khai trên những quy mô rộng lớn đối vói nhiều vấn đề sức khoẻ khác nhautrong những thời gian khá dài đã làm tăng độ chính xác và độ tin cậy của các công trình nghiên cứu dịch tễ học trong mọi lĩnh vực y tế tiến hành trên quần thể người, góp phần bảo vệ và nâng cao sức khoẻ cộng đồng ngay cả trước khi những cơ chế xuất hiện và lan truyền một vấn đề sức khoẻ nào đó chưa được biết rõ.



Từ khóa tìm kiếm nhiều: giun tóc, bệnh giun sán ở người

Mục tiêu của dịch tễ học

        Đề xuất được những biện pháp can thiệp hữu hiệu nhất để phòng ngừa, không chế và thanh toán những vấn đề ảnh hưởng xấu đến sức khoẻ của con người.

        Các mục tiêu chuyên biệt của dịch tễ học

         Xác định căn nguyên hay các yếu tố nguy cơ của bệnh

        Vì mục đích cuối cùng của chúng ta là tiến hành những can thiệp nhằm làm giảm thiểu tỷ lệ mắc và tỷ lệ chết đối với một bệnh, nên trước hết chúng ta phải xây dựng được một chương trình phòng chống thích hợp, nghĩa là chúng ta cần biết bệnh đã lan truyền từ cơ thể này sang cơ thể kia như thế nào. Nếu chúng ta biết rõ được các yếu tố căn nguyên hoặc những yếu tố nguy cơ của bệnh và có thể làm giảm thiểu việc loại trừ phơi nhiễm với các yếu tố nguy cơ đó, thì chương trình phòng chống vối bệnh mới có hiệu quả.

Mục tiêu của dịch tễ học

          Xác định tỷ lệ, phân bố và chiều hướng bệnh trong cộng đồng

        Xác định tỷ lệ mắc bệnh đó trong cộng đồng, phân bố của nó như thế nào, mức độ phổ biến hay lan tràn trong cộng đồng. Nói một cách khác là gánh nặng bệnh tật đó trong cộng đồng là như thế nào. Điều này rất quan trọng trong việc hoạch định kế hoạch cung cấp các dịch vụ đối với sức khoẻ cộng đồng cũng như cho các kế hoạch đào tạo cán bộ tương lai cho các hoạt động chăm sóc sức khoẻ cộng đồng.

         Nghiên cứu quá trình diễn biến tự nhiên và tiên lượng của bệnh

       Trong số các bệnh trạng của loài người, quá trình tự nhiên và tiên lượng của các bệnh đó là có khác nhau. Có những bệnh diễn biến nghiêm trọng hơn các bệnh khác, một số bệnh gây tử vong nhanh chóng, một sô bệnh khác lại có thời kỳ sống sót hoặc dài hoặc ngắn… Tất cả những điều đó đòi hỏi chúng ta phải xác định được quá trình diễn biến tự nhiên của bệnh, từ đó chúng ta mới có thế xây dựng được những chương trình can thiệp thích hợp hoặc trong điều trị hoặc trong việc phòng ngừa những biến chứng của bệnh.

         Đánh giá các hiệu quả của các biên pháp phòng bệnh và chữa bệnh trong chăm sóc sức khoẻ

       Dịch tễ học có nhiệm vụ quan trọng là cung cấp những thiết kế nghiên cứu nhằm đánh giá hiệu quả của những biện pháp phòng bệnh và chữa bệnh một cách khách quan và đáng tin cậy.

          Cung cấp cơ sở cho viêc phát triển các chính sách liên quan đến vấn đề sức khoẻ

         Mọi quyết định về đường lối và chính sách đều phải dựa trên những thông tin hay bằng chứng khoa học đáng tin cậy. Dịch tễ học sẽ cung cấp những phương pháp nhằm đưa ra các thông tin về tình hình, phân bố, yếu tố nguy cơ và hiệu quả của các biện pháp can thiệp và dự phòng, làm cơ sỏ cho việc đề xuất những chính sách phù hợp, đặc biệt trong việc cung cấp các dịch vụ y tế nhằm cải thiện sức khoẻ cộng đồng.



Từ khóa tìm kiếm nhiều: sán lá máu, bệnh giun sán

Các nội dung của dịch tễ học

           Bằng cách sử dụng kết hợp các kiến thức và các thành tựu của các ngành y học liên quan và với những phương pháp riêng của mình, dịch tễ học có khả năng thực hiện nhiệm vụ cúa mình là xác định căn nguyên hay yếu tố nguy cơ của các hiện tượng sức khoẻ cộng đồng hay ít nhất cũng tạo ra những yếu tố nguy cơ chi phôi sự phát sinh và diễn biến của bệnh trạng để rồi từ đó đề xuất ra những biện pháp đúng đắn, hữu hiệu nhằm hạn chế và thu hẹp dần sự phân bố, tần sô các bệnh trạng tiến tới thanh toán các bệnh trạng đó trong quần thể.

Các nội dung của dịch tễ học

           Để thực hiện nhiệm vụ chiến lược đó, dịch tễ học có một tập hơp các nhiêm vụ thông qua các nội dung hoạt động sau:
  1. Mô tảbệnh trạng với sự phân bố của chúng dướicác tác động: chủ thể con người – không gian – thòi gian, trong mối quan hệ tương tác thường xuyên của cơ thê cùng các yếu tô nội ngoại sinh, nhằm hình thành nên những giả thuyết về quan hệ nhân quả giữa yếu tố nguy cơ và bệnh trạng (Dịch tễ học mô tả).

  2. Dữ kiện thu thập được từ dịch tễ học mô tả, cùng với việctìm cách giải thích những yếu tố căn nguyên có thể chịu trách nhiệm cho sự xuất hiện và phân bố với bệnh trạng. Tiến hành những nghiên cứu phân tích, áp dụng các kiến thức về cả thống kê học, y sinh học để xác định căn nguyên và những tác động của chúng đến các hiện tượng sức khoẻ nghiên cứu. Nói một cách khác là tiên hành kiểm định những giả thuyết được hình thành từ dịch tễ học mô tả, trên cơ sở đó, đề xuất các biện pháp can thiệp thích hợp (Dịch tễ học phân tích).

  3. Để kiểm trạ, đánh gịậ một cách, chủ động tính chính xác yà thích hợp của, những biện pháp can thiệp được đề xuất từ các nghiên cứu dịch tễ học phân tích, dịch tễ học tìm cách thử nghiệm, so sánh hiệu quả của các biện pháp can thiệp khác nhau hay so sánh với nhóm đổi chứng bằng những phương pháp kỹ thuật ít sai số nhất nhằm mang lại những thông tin có giá trị nhất về hiệu quả của các biện pháp can thiệp (Dịch tễ học can thiệp).

  4. Xây dựng các mô hình lý thuyết yề bệnh trạng đã được nghiên, cứu trên cơ sở khái quát hoá sự phân bố cùng vói những môi tương tác vối các yếu tố căn nguyên, giúp cho việc ngăn ngừa khả năng xuất hiện, gia tăng và phân bố rộng rãi của bệnh trạng trên thực tế trong những quần thể tương tự khác (Dịch tễ học lý thuyết).

 Từ khóa tìm kiếm nhiều: sán lá gan, benh giun san

Đối tượng nghiên cứu của dịch tễ học

         Dịch tễ học nghiên cứu các quy luật của sự phát sinh (xuất hiện, tái diễn) và diễn biến (gia tăng, giảm đi, kết thúc) của các hiện tượng sức khoẻ xảy ra trong quần thể người trên những quy mô nhất định làm ảnh hưỏng không tốt đến sức khoẻ cộng đồng và năng suất lao động của xã hội.

       Các bệnh trạng được kể ở đây bao gồm, ngoài các bệnh trạng đã hình thành định nghĩa rõ ràng như các bệnh truyền nhiễm, các bệnh mạn tính (nổi lên rõ nét hiện nay như các bệnh ung thư, tim mạch, các bệnh cơ địa, chuyển hoá, các bệnh di truyền…) còn. bao gồm mọi trạng thái không bình thường về thể chất, tâm thần, xã hội của dân chúng. Cũng như đoi với các phạm trù khác, những bệnh trạng đó phát sinh và diễn biến mà ngày nay người ta dần dần nhận thức được một cách sáng tỏ là mọi bệnh trạng đều không phải tự nhiên và cố xảy ra mà đều có những nguyên nhân nhất định và các nguyên nhân đó chắc chắn có thể phòng được. Trong mối liên hệ của chúng, các bệnh trạng chịu ảnh hưởng tác động qua lại chặt chẽ của nhiều yếu tô’ bên trong và bên ngoài khác nhau.

nghiên cứu của dịch tễ học

       Ngoài ra, đối tượng nghiên cứu của dịch tễ học là các quy luật phân bố của các bệnh trạng xảy ra trong những quần thể dân chúng nhất định vối các yếu tố nguyên nhân chi phôi tình trạng phân bố đó. Sự phân bô đó cùng căn nguyên của chúng không cố định mà thay đổi không đồng đều theo thòi gian, từ nơi này sang nơi khác và theo phản ứng của cơ thế con người trước những yếu tố của môi trường xung quanh. Trong môi liên hệ thời gian, loài người đã chứng kiến sự thanh toán hay xuất hiện của một sô’ bệnh, một số bệnh khác ổn định hoặc tàng giám trong nhũng khoảng thời gian hoặc ngắn hoặc dài, tuỳ thuộc theo tính chất của từng bệnh trạng, tuỳ theo khả năng phản ứng và nhận thức của con người trước bệnh trạng đó. Trong mấy chục năm gần đây, người ta thấy xu hướng tăng nhiều của ung thư hô hấp, giảm nhiều của ung thư dạ dày và ung thư đại tràng ổn định. Tương tự như vậy cũng có sự thay đổi về phân bố bệnh theo không gian, nước này đến nước khác.

         Đối với chủ thể của con người, bện canh những đặc điểm về tuổi, giới tính, phong tục tập quán, chủng tộc, dân tộc… người ta còn quan tâm đến cả những đặc,thù sinh học, tâm sinh lý trong môi tương tác toàn diện vối các đặc điểm tự nhiên, xã hội trong đó các cá thể sinh sống.


Đọc thêm tại:

Thứ Tư, 17 tháng 6, 2015

Định nghĩa dịch tễ học

      Từ trước đến nay, cùng với sự phát triển của dịch tễ học, đã có nhiều định nghĩa về môn học này, mỗi định nghĩa đánh dấu một bước phát triển ở thời kỳ đó. Gần đây, Dịch tễ học được định nghĩa là một khoa học nghiên cứu sự phân bố tần số mắc hoặc chết đối với các bệnh trạng cùng với những yếu tố quy định sự phân bố của các yếu tố đó và ứng dụng của các nghiên cứu này để kiểm soát các vấn đề sức khoẻ. Ở định nghĩa này cần chú ý hai thành phần liên quan chặt chẽ với nhau: sự phân bố tần số và các yếu tố qui định sự phân bố tần số đó.

      Sự phân bố chất đối với một bệnh trạng nhất định được nhìn từ ba góc độ của dịch tễ hoc: con người- không gian- thời gian, để có thể trả lời được một câu hỏi là một bệnh trạng nào đó được phân bố như thế nào, ỏ những ai (tuổi nào, giới tính nào, nghề nghiệp nào, dân tộc nào…) ở đâu (vùng địa lý nào, nước nào…) vào thời gian nào (trước kia, hiện nay, vào những năm nào tháng nào…).

      Các bệnh trạng bao gồm mọi yếu tố nội và ngoại sinh thuộc nhiều lĩnh vực, bản chất khác nhau có ảnh hưởng đến sự mất cân bằng sinh học đối vối một cơ thể khiến cơ thể đó không duy trì được tình trạng sức khoẻ bình thường nữa. Nghiên cứu các yếu tố quy định, sự phân bố tần số tình trạng đó, xem tại sao lại có sự phân bố như vậy, mọi lý giải được các yếu tố nguyên nhân hoặc các yếu tố phòng ngừa đối với từng bệnh trạng nhất định.

dịch tễ học

        Ở cả hai thành phần của định nghĩa này đều có liên quan chặt chẽ đến tần số mắc và tần số chết, nói cách khác là phải định lượng các hiện tượng sức khoẻ đó dưới dạng số tuyệt đối, đo đếm chính xác và dưới dạng tỷ số để có thể đem so sánh được. Sự hiểu biết và nắm vững hai thành phần liên quan chặt chẽ vối nhau đó trong định nghĩa dịch tễ học là rất cần thiết trong quá trình lập luận dịch tễ học. Quá trình lập luận dịch tễ học thường được bắt đầu bằng sự nghi ngờ về những ảnh hưởng có thể có của một phơi nhiễm đặc thù nào đó đến sự xuất hiện, duy trì, thoái trào của một bệnh trạng nhất định.

       Sự nghi ngờ này có thể nảy sinh từ những thực hành lâm sàng, xét nghiệm, những báo cáo thu thập tình hình các bệnh trạng, từ những nghiên cứu mô tả dịch tễ học các bệnh trạng để phác thảo nên những giả thuyết về sự liên quan giữa một phơi nhiễm đối với một bệnh trạng: giả thuyết về môt quan hệ nhân – qụả. Giả thuyết nhân quả này sẽ được kiểm định bằng các nghiên cứu dịch tễ trên thông qua việc so sánh một nhóm chủ cứu và một nhóm đối chứng để xác định xem có một kết hợp thông kê hay không, bao hàm cả việc loại trừ các sai số hệ thông, loại trừ các may rủi và nhiễu, sau đó tiến hành một suy luận xem kết hợp thống kê đó có phản ánh một kết hợp nhân quả giữa một phơi nhiễm và bệnh hay không.



Từ khóa tìm kiếm nhiều: sán lá gan lớn, trieu chung giun san

Vật chủ trong chu kỳ giun đũa

     Giun đũa A. lumbricoides là loài giun đũa đặc hiệu cho người, loài này không có khả năng ký sinh ở các loài động vật khác. Ngược lại các loài giun đũa khác (giun đũa trâu bò, giun đũa lợn…) cũng không có khả năng nhiễm sang người.

     Nhưng trong thực tế có thể có tình trạng lạc chủ, nghĩa là người có thể nhiễm phải giun đũa của chó, lợn… trong tình trạng “mắc phải”. Trong trường hợp này ấu trùng lạc chủ không có khả năng phát triển trong cơ thể người đến giai đoạn trưởng thành ở ruột nhưng ngược lại cơ thể người có phản ứng miễn dịch mạnh đối với loài giun lạ này. Hiện tượng này gọi là hiện tượng lạc chủ.

Vật chủ trong chu kỳ giun đũa

    Ngoài hiện tượng lạc chủ, chu kỳ giun đũa còn có thể xảy ra hiện tượng lạc chỗ là vi trong quá trình ấu trùng chu du ấu trùng vẫn tiếp tục phát triển về kích thước. Vì giun đũa là loài giun to nên sự phát triển ấu trùng giai đoạn III, IV, V là rất nhanh, kích thước từ 0,5 mm tới 1 – 2 mm nên giun có thể mắc lại ở các kẽ van tim, ngược lại có thể vào tĩnh mạch tối phổi để vào hệ thông động mạch chủ, từ đó ấu trùng có thể di chuyển tới các nơi của cơ thể người. Trong ngoại khoa người ta có thể tìm thấy giun đũa ở tim phải, ở động mạch khỏe… Hiện tượng lạc chỗ gây ra các bệnh của hệ thống tuần hoàn. Chúng ta rất cần biết để phân biệt giun đũa lạc chỗ và giun đũa di chuyển (giun chui ống mật, giun chui vào ông tụy, giun chui vào ruột thừa, giun chui lên dạ dày, giun chui vào ống tai).



Từ khóa tìm kiếm nhiều: benh giun luon, bệnh giun sán ở người