Thứ Ba, 16 tháng 6, 2015

Điều trị giun đũa

        Santoninhiệu quả ra giun cao, độc. Dễ uống khi phối hợp với đường (dạng thuốc giun quả núi).Tuy nhiên có nhiều phản ứng phụ: nhìn vàng, buồn nôn, gây kích thích giun có thể đưa đến hậu quả giun chui ống mật. Hiện nay ít dùng.

Piperazin thuốc ít độc, hiệu quả ra giun cao. Tuy nhiên, số lượng thuốc phải dùng nhiều và kéo dài ngày gây phiền phức. Hiện nay còn dùng dưới dạng sirô cho trẻ em.

Levamisol (Decaris, Vinacor) hiệu quả ra giun cao. Đối với Levamisol, hiện nay có những khuyến cáo không nên dùng vì thuốc có thể gây tai biến như não viêm hoặc gây ung thư.

Pyrantel-pamoat (Combantrin, Helmintox) ít độc, hiệu quả trên nhiều loại giun, giá thành còn cao.

Mebendazol (Vermox) không độc, hiệu quả ra giun cao, có tác dụng trên nhiều loại giun.

Albendazol (Zentel) ít độc, hiệu quả trên nhiều loại giun, giá thành còn cao.

Điều trị giun đũa

Chống tái nhiễm trứng giun đũa ngoại cảnh

     Vấn đề đầu tiên là quản lý phân. Quản lý phân liên quan tới việc xây dựng hố xí, những nơi có điều kiện tốt nhất là dùng hố xí tự hoại.

     Không dùng phân tươi để bón cây, hoa màu. Hố xí hai ngăn đúng quy cách và sử dụng đúng quy định có khả năng hạn chế sự khuyếch tán trứng giun đũa, có khả năng diệt trứng giun đũa. Tuy nhiên, hố xí hai ngăn hiện nay ở các địa phương đều không đúng quy cách xây dựng và sử dụng.

     Vấn đề ăn uống cũng là nguồn để nhiễm trứng giun đũa ở ngoại cảnh. Ta cần quan tâm đến trẻ em, lứa tuổi hay lê la bò chơi trên sàn nhà rồi lại mút tay. Vấn đề gia súc, ruồi đều là nguồn đưa trứng giun vào thức ăn của người.

Nguồn trứng giun không chỉ ở rau sống, nước lã, mà ngay cả trong bụi nhà.

Điều trị giun đũa hàng loạt và định kỳ trong năm

     Bệnh giun đũa là một bệnh phổ biến, tỉ lệ nhiễm và mức độ nhiễm cao. Do đó muôn hạ thấp tỷ lệ nhiễm, tiến tới khống chế bệnh ở một vùng thì phải có kế hoạch điều trị trên diện rộng. Trong năm tùy thời gian (mùa nhiễm) mà cho nhân dân uống thuốc định kỳ, hoặc 4 hoặc 6 tháng 1 lần, đặc biệt với trẻ em từ 3 tới 12 tuổi.

    Trường hợp các cá nhân điều trị tuy có hiệu quả cho bản thân người đó nhưng không thể ảnh hưởng hạ tỷ lệ nhiễm giun cho vùng được.

     Hiện nay trong kế hoạch khống chế bệnh giun đũa là thường kết hợp với chương trình vệ sinh môi trường, cung cấp nước sạch và giáo dục vệ sinh cho cộng đồng. Điều trị phải tiến hành đồng loạt cho một vùng rộng lớn. Nhờ có các loại thuốc mới như mebendazol hay albendazol độc lực rất thấp, hiệu quả cao (cả đối với giun móc/ mở, giun kim, giun tóc…) nên việc uống thuốc trên diện rộng dễ thực hiện. Tuy nhiên để có hiệu quả người ta thường phải uống liên tiếp các đợt cách nhau 3 – 6 tháng. Do đó phải có nguồn tài chính lớn.

     Các kế hoạch phòng chống giun sán hiện nay cũng đã thực hiện ở nhiều nước và cũng thu được kết quả tốt. Nhật Bản đã tiến hành từ 1949 đến nay tỷ lệ giun đũa còn lại dưới 1%. Ở châu Phi người ta đã tiến hành hạ tỷ lệ giun đũa ở Kenya. Ở Việt Nam chắc chắn cũng sẽ có một kê hoạch hạ tỷ lệ giun đũa cho cả nước.


Đọc thêm tại:

Tình hình nhiễm giun đũa ở nước ta

Nhiễm giun đũa đứng hàng đầu trong các bệnh giun truyền qua đất ở Việt Nam.

Theo số liệu của Viện Sốt rét – Ký sinh trùng và Côn trùng Hà Nội, năm 1998:

Miền Bắc:Vùng Tây nguyên 10 – 25%

Tình hình nhiễm giun thay đổi theo tuổi và nghề nghiệp: Trẻ em là lứa tuổi nhiễm giun đũa cao nhất và nặng nhất. Nông dân tiếp xúc với phân, đất có tỷ lệ nhiễm cao.

Các em nhỏ 4 tháng tuổi đã tìm thấy trứng giun đũa trong phân. Gần đây qua điểu tra ở học sinh phổ thông cơ sở (nội ngoại thành Hà Nội) 1995, Hoàng Tân Dân – Trương Thị Kim Phượng và cộng sự cho kết quả nhiễm giun đũa 62,47%. Kết quả trên cho thấy mặc dầu môi trường đã được cải thiện, đời sống nhân dân đã cao hơn nhưng bệnh giun đũa vẫn chưa giảm đáng kể. Cũng qua điều tra của Cấn Thị Cúc (1980) tại tỉnh Quảng Ninh cho thấy nhân dân nói chung tỉ lệ nhiễm giun đũa là 88,39%, của Đỗ Thị Đáng (1990) tại tỉnh Thái Bình (một tỉnh nông nghiệp) cho kết quả tỉ lệ nhiễm giun đũa là 87,71% (nam 85,72%, nữ 87,01%).

Tình hình nhiễm giun đũa

Đánh giá độ ô nhiễm môi trường: để đánh giá độ ô nhiễm môi người ta thường tiến hành xét nghiệm tìm trứng giun đũa khuyếch tán ra môi trường (đất). Kết quả nghiên cứu Phạm Hoàng Thế, Nguyễn Nhân Kim (1963) đả cho thấy: có thể tìm thấy trứng giun đũa ở sàn nhà (thành phố Hà Nội) sàn lớp học, bàn học sinh. Ở nông thôn cũng tìm thấy trứng giun đũa ở sân, lối đi, trong nền nhà, trên bàn, trên ghế với tỉ lệ 3 trứng giun/100g đất. Đặc biệt số trứng được tăng lên 19 lần ở những khu vực xung quanh hố xí (chu vi 3 m). Ở nông thôn Việt Nam, vấn đề sử dụng phân người làm phân bón hoa màu là nguồn làm khuyếch tán trứng giun đũa, còn phải kể đến các gia súc, chó, lợn, gà cũng là nguồn khuyếch tán trứng giun đũa. Thí nghiệm ở gà 16 – 40%, ở lợn và chó 52- 76% trứng giun đũa được bài tiết ra vẫn phát triển sau khi bị các gia súc ăn vào.

Mùa lạnh ở nước ta không có đủ điều kiện để diệt trứng giun đũa ở ngoại cảnh, kể cả miền núi. Do đó, ngoại cảnh Việt Nam quanh năm đều là nguồn ấp ủ phát triển trứng giun đũa.



Từ khóa tìm kiếm nhiều: sán lá gan nhỏ, trieu chung giun san

Sự phát triển và tình hình nhiễm giun đũa

Do số lượng trứng giun đũa bài xuất theo phân cao, do khả năng đề kháng của trứng giun đũa ở ngoại cảnh mạnh, nên bệnh giun đũa là phổ biến ở nhiều nước, đặc biệt bệnh phát triển ở khu vực có khí hậu nóng ẩm.

Khả năng phát triển của trứng giun đũa ngoại cảnh

Giun đũa cái có khả năng sinh sản rất lớn. Theo các nghiên cứu nuôi giun tại phòng thí nghiệm, mỗi ngày 1 con giun đũa cái có thể đẻ tới 23 – 24 vạn trứng. Trứng giun đũa không có khả năng phát triển trong cơ thể người. Các điều kiện phát triển của trứng giun đũa ở ngoại cảnh là nhiệt độ, ẩm độ và oxy.

Nhiệt độ thuận lợi 24 - 25°c, ở nhiệt độ này sau 12 – 15 ngày trứng non phát triển đến giai đoạn có ấu trùng, giai đoạn trứng có khả năng nhiễm cho người. Nếu nhiệt độ thấp thì thời gian phát triển kéo dài có khi tới vài tháng và tỷ lệ trứng hư hỏng lên cao.

Nhiệt độ càng cao làm tỷ lệ trứng hỏng càng tăng và thời gian vẫn là 12 ngày. Trứng sẽ bị hủy hoại ở nhiệt độ trên 60°c. Trứng giun đũa có thể tồn tại ở nhiệt độ dưới 0 cho tới -12°cmới có khả năng diệt trứng giun đũa.

Âm độ từ 80% trở lên là điều kiện tốt nhất cho trứng giun đũa phát triển.

Oxy là yếu tố cần thiết cho trứng giun đũa phát triển. Do đó khi trứng giun đũa bị nằm sâu dưới nước (trên 1 m chiều sâu) dần dần trứng sẽ bị hỏng. Vì vậy trong hố xí nước trứng giun sẽ bị hỏng sau 2 tháng.

Đối với hoá chất: Formol 6% không có khả năng diệt trứng giun đũa. Thuốc tím rửa rau sông, cresyl rửa sàn nhà cũng không có khả năng diệt trứng giun đũa.

Một số nước đã dùng dung dịch iod 10% để diệt trứng giun sán trong rau sống, tuy nhiên thường để lại vị khó chịu nếu không được rửa lại cẩn thận bằng nước sạch.

Trong thiên nhiên trứng giun đũa thường bị hủy hoại bởi ánh nắng mặt trời và điều kiện thời tiết khô hanh.

tình hình nhiễm giun đũa

Tình hình nhiễm giun đũa trên thế giới

Các nước châu Âu: do điều kiện khí hậu lạnh, khô làm cho sự phát triển trứng giun đũa ở ngoại cảnh bị hạn chê” nhiều. Theo các nghiên cứu sự tồn tại của trứng giun ở vùng ngoại ô Matxcơva thì qua mùa lạnh số trứng giun đũa sống sót lại chỉ còn 1 – 2% và tới mãi tháng 4, tháng 5 năm sau mới có điều kiện phát triển thành trứng có ấu trùng.

Ngoài điều kiện khí hậu, các nước châu Âu là nơi có mức sống cao, môi trường sạch, phân đều được xử lý trong các hố xí tự hoại, không còn phong tục sử dụng phân người làm phân bón. Do đó bệnh giun đũa hầu như không còn (dưới 1%). Tuy nhiên trong đại chiến II (1939 – 1945), tỷ lệ bệnh giun đũa cũng cao, ở Ý qua xét nghiệm trẻ em tỉ lệ tới 12 – 75%, ở nông thôn Hà Lan có nơi 45% nhiễm giun đũa. Ở Pháp, Đức, Bở Đào Nha cũng thấy tỷ lệ bệnh giun đũa cao. Khi hết chiến tranh, bệnh giun đũa giảm nhanh (theo thông kê của Tổ chức y tê thế giới WHO).

Các nước châu Phi và châu Mỹ Latinh: do vân đề ô nhiễm môi trường của bệnh giun sán, do khí hậu nóng, ẩm, do đời sông của nhân dân còn thấp nên tỷ lệ bệnh giun đũa hiện vẫn còn xấp xỉ 8% (châu Mỹ Latinh) 12% (châu Phi).

Các nước châu Á: tỷ lệ giun đũa còn cao ở các nước Ấn Độ, Trung Quốc, Bangladesh, Indonesia, Mianma, có nhiều vùng tỷ lệ nhiều giun đũa lên tới 50% dân số.



 Từ khóa tìm kiếm nhiều: giun tóc, bệnh giun sán ở người

Bệnh học giun đũa

Khả năng chiếm thức ăn

      Giun đũa là loài giun lớn ký sinh ở ruột, thường giun đũa ký sinh với số lượng lớn nên vấn đề chiếm thức ăn là tồn tại hàng đầu của bệnh giun đũa. Vị trí ký sinh của giun đũa cũng tạo cho giun đũa chiếm sinh chất quan trọng của người, đặc biệt là đối với trẻ em. Theo thống kê của Đỗ Dương Thái, Hoàng Tân Dân (1976) thì mật độ nhiễm giun đũa của người Việt Nam là 7 – 8 con giun. Tuy nhiên, trong các trường hợp mổ tắc ruột do giun, số lượng giun có thể lên tới 1000 con. Do số lượng giun lớn như vậy nên vấn đề chiếm thức ăn của giun đũa là rất quan trọng, đưa đến tình trạng suy dinh dưỡng đáng kể ở trẻ em.

      Theo thống kê của Tổ chức sức khỏe thế quốc tế (WHO) 1967, mỗi người trung bình có 26 giun thì mỗi ngày phải hao tốn 4 g protein. Ngoài việc chiếm protein, giun đũa còn gây ra rối loạn thẩm thấu thức ăn qua việc gây tổn thương viêm niêm mạc ruột. Bên cạnh việc chiếm protein giun đũa còn chiếm vitamin, đặc biệt là vitamin A và vitamin D.

Bệnh học giun đũa

Do số lượng giun

      Số lượng giun nhiều, do điều kiện pH ruột bị rối loạn, giun đũa còn có thể gây ra tình trạng tắc ruột, giun phát tán ra ống mật lên gan, chui vào ống tụy, vào ruột thừa. Đôi khi còn gặp thủng ruột viêm phúc mạc do giun đũa.

Năm 1962 tại Bệnh viện Việt Đức (Hà Nội) đã phải xử lý 115 trường hợp giun gây tắc ruột, 336 trường hợp giun chui ống mật.

Hội chứng Loeffler

      Hội chứng Loeffler là do ấu trùng giun đũa gây ra khi tồn tại ở phổi. Hội chứng gồm các triệu chứng sau: ho, sốt, đau ngực dữ dội, tế bào ái toan lên cao30 – 40%, X quang có nhiều nốt thâm nhiễm rải rác hai phổi. Nhưng các triệu chứng trên sẽ hết sau 6 – 7 ngáy, khi các ấu trùng rời phổi để lên vùng vòm hầu miệng. Gần đây người ta đã lưu ý tới các triệu chứng viêm màng não do ấu trùng giun đũa gây ra.

Chuẩn đoán bệnh giun đũa

      Bệnh giun đũa không có dấu hiệu lâm sàng đặc hiệu. Kỹ thuật xét nghiệm phân tìm trứng giun đũa là đơn giản và chính xác. Đối với giun đũa không cần kết hợp phương pháp xét nghiệm phong phú tập trung trứng vì trứng giun đũa rất nhiều trong phân. Trong các công cuộc điều tra giun đũa hiện nay thường dùng kỹ thuật Kato – Katz.

     Các kỹ thuật gián tiếp để chẩn đoán giun đũa đều không cần thiết. Tuy nhiên, người ta cũng có thể tiến hành kỹ thuật huỳnh quang hay Elisa để chẩn đoán các trường hợp bệnh do ấu trùng giun đũa gây ra (viêm màng não, tăng tê bào ái toan không rõ nguyên nhân). Ngoài ra, một số trường hợp tắc ruột, giun chui ống tuỵ… có thể dùng X quang, siêu âm để chẩn đoán, giun chui ống mật có thể dùng siêu ầm để chẩn đoán.



Từ khóa tìm kiếm nhiều: sán lá máu, bệnh giun sán

Họ nấm của bộ Plectascales

Về phương diện y học cũng như phương diện sinh vật học, bộ này có thể chia làm hai họ rõ rệt: Họ Gymnoascaceae gồm nhiều loại nấm gây bệnh ở lớp biểu bì, tóc và lống và Họ Aspergillacea thường không có khả năng gây bệnh.

Họ Gymnoascacea

Vì nấm trong họ này đã mất khả năng sinh sản hữu giới nên phải dựa trên hình thể của sợi nấm và phương thức sinh sản vô giới để phân loại. Sợi nấm ngoài những sợi bình thường có thể có những sợi hình thể đặc biệt như hình xoắn trôn Ốc, hình cái mở nút chai, hình lò xo, xoắn hình búi, sợi phân chia thành 3 – 4 nhánh, cụt hình chạc hay gạc nai.

Hình thái sinh sản của Gymnoascaceae gồm có:
Bào tử thoi: có thể nằm ở giữa hoặc ở đầu sợi nấm, hình thể rất khác nhau tùy theo loại nấm: hình trùy, hình xúc xích, hình thoi, v.v…
Bào tử áo: nguyên sinh chất trên thân nấm tập trung lại, dày lên, chiết quang, có vở bao bọc.
Những hình thể đặc biệt của sợi nấm và những bộ phận sinh sản vô giới mô tả trên đây chỉ xuất hiện khi cấy nấm vào môi trường thích hợp (môi trường Sabouraud có glucose 2%).
Sợi xoắn ít, không thành búi, thoi hình xúc xích, phấn đơn: Trichophyton sợi xoắn ít, không thành búi, thoi hình thoi, phấn đơn hay kép hình thuẫn: Microsporum
Sợi xoắn nhiều hình búi, thoi hình trùy, phấn kép: Stenomyces

Họ nấm của bộ Plectascales

Giống Achorion:

Tiêu biểu là loài Achorion schonleini gây bệnh nấm tóc. Sau khi nhổ tóc hoặc tóc rụng, nơi bị viêm không mọc tóc khác và thành sẹo trơn. Lấy mủ ở chân sợi tóc đặt giữa phiến kính và lá kính có thể thấy những sợi nấm ngắn. Muốn soi sợi tóc cần hơ nóng với dung dịch NaOH hoặc KOH 10% giữa phiến kính và lá kính rồi soi ở kính hiển vi sẽ thấy những sợi nấm chạy dọc theo sợi tóc không nhiều lắm, chia thành đốt nhở rộng 2-4 μm, dài 12-14 μm thỉnh thoảng chia thành 2-3 nhánh chạy song song với nhau, đôi khi không thấy sợi nấm nhưng có những ống dài đầy không khí chứng tở chở đó đã bị nấm phá hủy và cũng là một dấu hiệu tóc bị nấm.
Cấy vào môi trường, nấm mọc thành khuẩn lạc khô xốp, mặt gở ghề như vở não. Nhìn nấm ở giọt treo không thấy bộ phận sinh sản phấn hay thoi hình chạc đặc biệt, có những sợi nấm phân chia theo hình gạc nai.



Từ khóa tìm kiếm nhiều: sán lá gan, benh giun san

Thứ Hai, 15 tháng 6, 2015

Một số bệnh thuộc bộ Endomycetales gây ra

Bộ Endomycetales
Tên thường gọi là nấm men hoặc men, có khả năng sinh sản bằng nang nhưng đa số đã bi mất khả năng ấy và chỉ còn sinh sản bằng chồi.Trong số sinh sản bằng nang có một số men dùng trong cống nghệ rượu vang và bia.
Nấm men thuộc bộ Endomycetales có thể gây một số bệnh:
Bệnh nấm Blastomyces
Hình thể nấm: là nấm lưõng thể (lưõng pha), pha sợi là sợi nấm với những bào tử đính nhở và pha men với những tế bào men có bào tử mầm.
Pha men

bộ Endomycetales

Bệnh do nấm Blastomyces:
+ Bệnh loét da do nấm: bắt đầu từ những áp xe nhở dưới da rồi lan dần.
+ Bệnh nấm toàn thân: tất cả các bộ phận của cơ thể đều có thể tìm thấy các thể nấm hình thuẫn ở trong các áp xe do chúng gây ra. Có thể thấy nấm ngay cả trong máu. 
Phương pháp chẩn đoán bệnh là tìm nấm trực tiếp ở mủ và cấy nấm vào môi trường. Nếu nuôi cấy ở nhiệt độ 25°c với môi trường Sabouraud, nấm xuất hiện pha sợi với những sợi nấm có bào tử đính nhở có cuống và nếu nuôi cấy ở nhiệt độ 35°c với môi trường thạch tim óc, nấn sẽ ở pha tế bào nấm men.
Theo Dodge, năm 1935 đã tìm thấy nấm trên các loài họ mèo có khả năng gây bệnh, đại đa số thuộc loại không nang bào.
Bệnh nấm Histoplasma và bệnh nấm Torulopsis
Histoplasma capsulatum: Gây bệnh Histoplasmose thường thấy ở Nam Mỹ, rất ít thấy ở các nơi khác. Nấm gây bệnh toàn thân làm sưng lách, gàn. Có thể tìm thấy nấm trong máu hay ở sinh thiết gan, lách, v.v…
Về hình thái, nấm này là loại lưỡng thể, có nghĩa là vừa có hình thái tế bào hạt men, lại vừa có hình thái nấm sợi tuỳ thuộc điều kiện phát triển và nuôi cấy. Trong thể ký sinh, nấm gồm những hạt men tròn, có vở chiết quang, nằm trong hoặc ngoài tế bào. Trong môi trường nuôi cấy, nấm mọc thành sợi có bào tử đính lớn xù xì và bào tử đính nhở nhẵn ở nhiệt độ cao 37°c và thành hạt như men ở nhiệt độ thấp 25°c.
Toruiopsis neoformans: nấm này gặp ở nhiều nơi trên thế giới, gây nhiều bệnh ở da, ở thần kinh, ở phổi, đặc biệt hay gây bệnh viêm màng não. Có thể thấy nấm trong mủ của các tổn thương hoặc trong nước não tủy dưới hình thái những tế bào hình thuẫn hay tròn chung quanh có một màng nhầy rất chiết quang.


Đọc thêm tại:

Các loại nấm gây bệnh thường gặp

Coccidioides immitis gây bệnh Posadas
Người bị bệnh do hít thở phải bụi có nấm, thường gặp ở các nước châu Mỹ và Mỹ La tinh. Nấm gây tổn thương ở phổi. Bệnh nhân sốt, ho, trong đờm có thể thấy nhiều hạt nấm tròn có vở dày từ 50-60 đến 80 p.m, trong có nhiều bào tử. Nuôi cấy thấy sợi nấm chia đốt, nấm ở pha sợi.
Đôi khi bệnh không chỉ ở phổi, mà lan vào các phủ tạng khác gây những áp xe, trong có nhiều thể nấm như thể thấy ở đờm.
Paracoccidỉoides brasiliensis
Gây bệnh Lutz hay bệnh Lobo, thường thấy ở vùng Amazon của Braxin. Phần nhiều nấm vào cơ thể bàng đường da hoặc niêm mạc, gây tổn thương ở da và niêm mạc.
Từ các tổn thương trên, nấm có thể lan đến khắp các bộ phận trong cơ thể (hạch, xương, phổi, gan, não, lách). Xét nghiệm mủ của những bộ phận nhiễm bệnh thấy tế bào hạt men tròn, to, đường kính 25-30 μm, chiết quang, xung quanh những hạt to ấy có nhiều hạt mầm nhở. Nếu nhuộm Gram, hạt lớn và hạt nhở đều bắt màu Gram dương.

Các loại nấm gây bệnh thường gặp

Gây viêm niêm mạc mũi, mắt, tai, v.v… Niêm mạc trở nên xung huyết, đở như quả dâu. Làm sinh thiết có thể thấy những hạt tròn, có vở tương đối dày, trong hạt có hàng trăm bào tử nấm.
Bệnh thường gặp ở một số nước: Achentina, Ấn Độ, Srilanca, Mỹ, Cuba, v.v… Bệnh lan tràn do nấm ở trong nước xâm nhập vào các niêm mạc qua tắm rửa như niêm mạc tai, mũi.
Ngoài ba loại nói trên là những loại gây bệnh, trong lớp Phycomyces còn có những loại nấm không ký sinh nhưng thường dùng trong cống nghệ như Mucor rouxii.
Lớp Ascomỵcetes
Còn gọi là lớp nấm nang. Qua những nghiên cứu cho thấy 9/10 các bệnh nấm gặp ở Việt Nam là do các tác nhân nấm gây bệnh nằm trong lớp nấm nang (Ascomycetes) gây nên.
Lớp này bao gồm những nấm có phương thức sinh sản hữu giới bằng nang. Trong lớp này, có nhiều loài do điều kiện sinh sống đã mất khả năng sinh sản hữu giới nhưng vẫn xếp vào lớp này.
Ngoài hình thức sinh sản hữu, giới nấm này còn có những hình thức sinh sản vô giới rất phong phú. Người ta dựa trên chính những hình thức sinh sản vô giới này để phân loại Ascomycetes, và được chia làm ba bộ lớn như sau:
Bộ Endomycetales: Tên thường gọi là nấm men, thân nấm gồm những hạt hình thuẫn không dính với nhau thành vè nấm.
Bộ Plectascales: Gồm các loại nấm ký sinh ở da, tóc và các loại mốc xanh như nấm Penicillium, mốc vàng như nấm Aspergillus v.v… Khả năng sinh sản hữu giới của các nấm trong bộ này đã mất hoàn toàn do bị thoái hóa.
Bộ Hemispheriales: Có khả năng mọc ở điều kiện rất khô, vè nấm kết thành khối cứng.



Từ khóa tìm kiếm nhiều: sán lá gan lớn, trieu chung giun san