Thứ Hai, 15 tháng 6, 2015

Một số bệnh thuộc bộ Endomycetales gây ra

Bộ Endomycetales
Tên thường gọi là nấm men hoặc men, có khả năng sinh sản bằng nang nhưng đa số đã bi mất khả năng ấy và chỉ còn sinh sản bằng chồi.Trong số sinh sản bằng nang có một số men dùng trong cống nghệ rượu vang và bia.
Nấm men thuộc bộ Endomycetales có thể gây một số bệnh:
Bệnh nấm Blastomyces
Hình thể nấm: là nấm lưõng thể (lưõng pha), pha sợi là sợi nấm với những bào tử đính nhở và pha men với những tế bào men có bào tử mầm.
Pha men

bộ Endomycetales

Bệnh do nấm Blastomyces:
+ Bệnh loét da do nấm: bắt đầu từ những áp xe nhở dưới da rồi lan dần.
+ Bệnh nấm toàn thân: tất cả các bộ phận của cơ thể đều có thể tìm thấy các thể nấm hình thuẫn ở trong các áp xe do chúng gây ra. Có thể thấy nấm ngay cả trong máu. 
Phương pháp chẩn đoán bệnh là tìm nấm trực tiếp ở mủ và cấy nấm vào môi trường. Nếu nuôi cấy ở nhiệt độ 25°c với môi trường Sabouraud, nấm xuất hiện pha sợi với những sợi nấm có bào tử đính nhở có cuống và nếu nuôi cấy ở nhiệt độ 35°c với môi trường thạch tim óc, nấn sẽ ở pha tế bào nấm men.
Theo Dodge, năm 1935 đã tìm thấy nấm trên các loài họ mèo có khả năng gây bệnh, đại đa số thuộc loại không nang bào.
Bệnh nấm Histoplasma và bệnh nấm Torulopsis
Histoplasma capsulatum: Gây bệnh Histoplasmose thường thấy ở Nam Mỹ, rất ít thấy ở các nơi khác. Nấm gây bệnh toàn thân làm sưng lách, gàn. Có thể tìm thấy nấm trong máu hay ở sinh thiết gan, lách, v.v…
Về hình thái, nấm này là loại lưỡng thể, có nghĩa là vừa có hình thái tế bào hạt men, lại vừa có hình thái nấm sợi tuỳ thuộc điều kiện phát triển và nuôi cấy. Trong thể ký sinh, nấm gồm những hạt men tròn, có vở chiết quang, nằm trong hoặc ngoài tế bào. Trong môi trường nuôi cấy, nấm mọc thành sợi có bào tử đính lớn xù xì và bào tử đính nhở nhẵn ở nhiệt độ cao 37°c và thành hạt như men ở nhiệt độ thấp 25°c.
Toruiopsis neoformans: nấm này gặp ở nhiều nơi trên thế giới, gây nhiều bệnh ở da, ở thần kinh, ở phổi, đặc biệt hay gây bệnh viêm màng não. Có thể thấy nấm trong mủ của các tổn thương hoặc trong nước não tủy dưới hình thái những tế bào hình thuẫn hay tròn chung quanh có một màng nhầy rất chiết quang.


Đọc thêm tại:

Các loại nấm gây bệnh thường gặp

Coccidioides immitis gây bệnh Posadas
Người bị bệnh do hít thở phải bụi có nấm, thường gặp ở các nước châu Mỹ và Mỹ La tinh. Nấm gây tổn thương ở phổi. Bệnh nhân sốt, ho, trong đờm có thể thấy nhiều hạt nấm tròn có vở dày từ 50-60 đến 80 p.m, trong có nhiều bào tử. Nuôi cấy thấy sợi nấm chia đốt, nấm ở pha sợi.
Đôi khi bệnh không chỉ ở phổi, mà lan vào các phủ tạng khác gây những áp xe, trong có nhiều thể nấm như thể thấy ở đờm.
Paracoccidỉoides brasiliensis
Gây bệnh Lutz hay bệnh Lobo, thường thấy ở vùng Amazon của Braxin. Phần nhiều nấm vào cơ thể bàng đường da hoặc niêm mạc, gây tổn thương ở da và niêm mạc.
Từ các tổn thương trên, nấm có thể lan đến khắp các bộ phận trong cơ thể (hạch, xương, phổi, gan, não, lách). Xét nghiệm mủ của những bộ phận nhiễm bệnh thấy tế bào hạt men tròn, to, đường kính 25-30 μm, chiết quang, xung quanh những hạt to ấy có nhiều hạt mầm nhở. Nếu nhuộm Gram, hạt lớn và hạt nhở đều bắt màu Gram dương.

Các loại nấm gây bệnh thường gặp

Gây viêm niêm mạc mũi, mắt, tai, v.v… Niêm mạc trở nên xung huyết, đở như quả dâu. Làm sinh thiết có thể thấy những hạt tròn, có vở tương đối dày, trong hạt có hàng trăm bào tử nấm.
Bệnh thường gặp ở một số nước: Achentina, Ấn Độ, Srilanca, Mỹ, Cuba, v.v… Bệnh lan tràn do nấm ở trong nước xâm nhập vào các niêm mạc qua tắm rửa như niêm mạc tai, mũi.
Ngoài ba loại nói trên là những loại gây bệnh, trong lớp Phycomyces còn có những loại nấm không ký sinh nhưng thường dùng trong cống nghệ như Mucor rouxii.
Lớp Ascomỵcetes
Còn gọi là lớp nấm nang. Qua những nghiên cứu cho thấy 9/10 các bệnh nấm gặp ở Việt Nam là do các tác nhân nấm gây bệnh nằm trong lớp nấm nang (Ascomycetes) gây nên.
Lớp này bao gồm những nấm có phương thức sinh sản hữu giới bằng nang. Trong lớp này, có nhiều loài do điều kiện sinh sống đã mất khả năng sinh sản hữu giới nhưng vẫn xếp vào lớp này.
Ngoài hình thức sinh sản hữu, giới nấm này còn có những hình thức sinh sản vô giới rất phong phú. Người ta dựa trên chính những hình thức sinh sản vô giới này để phân loại Ascomycetes, và được chia làm ba bộ lớn như sau:
Bộ Endomycetales: Tên thường gọi là nấm men, thân nấm gồm những hạt hình thuẫn không dính với nhau thành vè nấm.
Bộ Plectascales: Gồm các loại nấm ký sinh ở da, tóc và các loại mốc xanh như nấm Penicillium, mốc vàng như nấm Aspergillus v.v… Khả năng sinh sản hữu giới của các nấm trong bộ này đã mất hoàn toàn do bị thoái hóa.
Bộ Hemispheriales: Có khả năng mọc ở điều kiện rất khô, vè nấm kết thành khối cứng.



Từ khóa tìm kiếm nhiều: sán lá gan lớn, trieu chung giun san

Phân loại vô giới (bào tử đính)

Lớp Actinomycetes
Actinomycetes là lớp nấm có sợi đặc, sinh sản bằng cách phân chia đứt khúc. Người ta phân chia lớp này thành, hai bộ: Streptomycetales và Actinomycetales.
Trong bộ Actinomycetales, những khúc phân chia xuất hiện ngay ở sợi nấm thường.
Trong bộ Streptomycetales, những khúc phân chia phát sinh ở những sợi nấm xoắn hình lò xo hoặc hình trôn ốc.
Bộ Actinomycetales
Gồm một số loại có khả năng gây bệnh.
Actinomyces bovis và Nocardia asteroides
Có khả năng gây bệnh ung chân, ung hàm do giẫm phải gai hoặc nhai phải những dầm gở có nấm. Chân ung do nấm gọi là chân Madura. Bệnh ung chân, ung hàm là một chứng viêm mạn tính. Chân hay hàm sưng to, sau một thời gian da bị loét và dễ chảy mủ đặc.

Phân loại vô giới (bào tử đính)

Mủ chảy ra có những tính chất đặc biệt sau đây được áp dụng để chẩn đoán bệnh:
Nếu cho mủ chảy vào một ống nghiệm có nước, có thể thấy lắng ở đáy ống những hạt nhở như cát có màu trắng, đở hay đen tùy theo loại nấm.
Nếu lấy một số hạt ép vào phiến kính rồi nhuộm Ziehl Neelsen (như nhuộm trực khuẩn lao) sẽ thấy một số dây nấm chằng chịt bắt màu xanh, xung quanh có những tai hình trùy bắt màu đỏ
Để định loại nấm một cách chính xác, cần phải cấy nấm vào môi trường thích hợp. Nấm Actinomyces boưis rất khó mọc ở điều kiện thường nhưng dễ mọc ở điều kiện yếm khí. Nấm Nocardia asteroides dễ mọc ở điều kiện bình thường.
Actinomyces minutissimus
Loại nấm này mọc ở lớp biểu bì và gây bệnh hăm bẹn (Erythrasma) thường thây ở hai bên háng, mu đùi và bìu, ít gặp ở nách. Vùng bị hăm màu đo có bờ rõ, mặt phẳng và có vẩy nhở, đôi khi có nếp nhăn hình kẻ ô. Bệnh thường thây ở người lớn có nhiều mở hôi, trẻ em ít bị hơn. Cạo vẩy ở vùng bị hăm, đặt vẩy lên phiến kính, nhở một giọt NaOH 10% rồi soi dưới kính hiển vi sẽ thây những sợi nấm rất bé và trong. Nếu cây vào môi trường thì không mọc.
Bộ Streptomycetaies
Không có khả năng gây bệnh, nhưng có nhiều loại cho chất kháng sinh.
Lớp Phycomycetes
Phycomycetes bao gồm những nấm có khả năng sinh sản hữu giới bằng trứng. Một số loại có khả năng ký sinh và gây những bệnh hiếm gặp ở nước ta như: Coceidioides immitis, Paracoccidioides immitis, Rhinosporium seeberi.



Từ khóa tìm kiếm nhiều: benh giun luon, bệnh giun sán ở người

Cấu trúc của nấm ký sinh

Bào tử chồi
Từ phía bên của sợi nấm hoặc tế bào nấm men mọc ra một cái chồi hay mầm được gọi là bào tử chồi/mầm. Chồi to dần rồi rụng khởi thân nấm và có khả năng mọc thành nấm mới khi rơi vào môi trường thích hợp.
Bào tử áo
Sau khi phát triển một thời gian, nguyên sinh chất của sợi nấm tập trung vào một điểm, trở nên đặc và chiết quang, xung quanh khối đó xuất hiện một vở dày bao bọc. Khối này là bào tử áo.
Bào tử thoi
Trong một phòng ở đầu sợi nấm hoặc ở giữa sợi nấm, nhân chia hai, chia bôn hoặc chia tám. Phòng nấm chuyển thành hình thoi và chia làm nhiều ngăn, mởi ngăn có một nhân. Khi thoi rơi vào môi trường thích hợp, mởi ngăn có thể mọc thành một sợi nấm mối.

Cấu trúc của nấm ký sinh

Bào tử phấn
Xung quanh sợi nấm mọc những hạt rất nhở, trắng gọi là phấn. Sau khi sợi khô, phấn bay theo gió và sẽ mọc nấm mối.
Bào tử đỉnh
Những hạt hình thể khác nhau mọc ở những bộ phận đặc biệt của nấm. Có 1 số loại bào tử đính:
Bộ phận hình chai: Từ phía bên dây nấm nẩy ra một bộ phận hình chai, ở miệng chai sinh ra những hạt tròn.
Bộ phận hình chồi: các hạt đính xếp thành chuỗi hình chổi như nấm Penicillium.
Bào tử đính hình hoa cúc: các hạt đính với nhau giống hình hoa cúc, tùy theo cấu trúc có thể là cấu trúc đơn hoặc cấu trúc kép.
Đó là cấu trúc của nấm Aspergillus.
Có nhiều loại nấm không có khả năng sinh sản hữu giới mà chỉ có phương thức sinh sản vô giới. Người ta xếp chúng vào lớp nấm bất toàn



Từ khóa tìm kiếm nhiều: tác hại của giun đũa, bệnh giun sán

Phương thức sinh sản của nấm

      Trừ lớp Actinomycetes không có bộ phận sinh sản và khuếch tán theo một cách đặc biệt, các lớp nấm khác đều có những phương thốc sinh sản và khuếch tán hữu giới hoặc vô giới.

Các phương thức sinh sản hữu giới

Phương thức sinh sản và khuếch tán hữu giới bằng trứng

Từ hai sợi nấm gần nhau thuộc cùng một vè hoặc hai vè khác nhau nẩy ra hai chởi. Hai chỗ ấy to dần ra và gặp nhau, nguyên sinh chất hòa hợp, hai nhân giao kết với nhau và chuyển thành một cái trứng.
Lớp nấm trứng hoặc lớp Phycomycetes sinh sản theo phương thức này.
Phương thức sinh sản và khuếch tản hữu giới bằng nang (bao)
Sau khi phát triển một thời gian, trong một số sợi nấm, nhân của mởi ngăn nấm được chia thành hai và ghép với nhân của những ngăn lẫn cận. Sau khi có trao đổi nhân, vè nấm chuyển thành vè nấm hữu giới. Trong mởi ngăn, nhân chia hai rồi chia bổn, chia tám thành nang bào tử. Nấm chuyển thành một nang chứa bổn hay tám nang bào tử.
Các loại nấm có khả năng sinh sản bằng nang thuộc lớp nấm nang hoặc lớp Ascomycetes. Sinh sản bằng nang trứng

Phương thức sinh sản của nấm

Phương thức sinh sản và khuếch tán hữu giới bằng đảm

Sau khi phát triển một thời gian, một số sợi nấm cũng chuyển thành vè nấm hữu giới theo phương thức đã nói trên. Sau đó trong mởi ngăn, ở đầu các sợi nấm hữu giới nhân chia đôi rồi chia bổn. Đồng thời nấm mọc ra bổn ụ, môi nhân sẽ vào một ụ để thành 4 đảm bào tử.
Những nấm sinh sản theo phương thức này thuộc lớp nấm đảm hoặc lớp Basidiomycetes.

Các phương thức sinh sản vô giới

Ngoài các phương thức sinh sản và khuếch tán hữu giới nói trên, nấm còn có khả năng sinh sản và khuếch tán vô giới nghĩa là sự phân chia không có phối hợp nhân, bao gồm:
Bào tử đốt
Trong sợi nấm sinh nhiều ngăn gần nhau, sợi nấm đứt ngang các ngăn thành các đốt rời nhau. Mỗi đốt gọi là một bào tử đốt.



Từ khóa tìm kiếm nhiều: bệnh sán lá gan, benh giun san

Thứ Bảy, 13 tháng 6, 2015

Dùng bẫy, đập, bả và biện pháp hóa học để diệt tiết túc

Dùng bẫy, đập, mởi bả để diệt tiết túc

Loại trừ các ổ bọ gậy: xử lý những vũng nước đọng, dùng lưới chắn muỗi cho các bể chứa nước (bể treo, bể ngầm)…
Nâng cấp hệ thống cung cấp nước, hệ thống thoát nước.
Can thiệp vào môi trường: các dụng cụ chứa nước trong nhà, ngoài nhà. Các dụng cụ hứng nước gây đọng, phế liệu, phế thải gây đọng nước mưa…

Biện pháp hóa học

Các hoá chất được sử dụng diệt tiết túc phải tuyệt đối an toàn đối với người và gia súc, ít gây ô nhiễm môi trường, đồng thời phải có hiệu lực diệt côn trùng, tiết túc cao. Các loại hoá chất diệt phổ biến hiện nay là:
Malathion: là một trong những hóa chất an toàn và ít độc. Liều dùng 1- 2g/m2. Malathion có tác dụng tốt trong phòng chống sốt rét, dùng để phun với liều 2g/m2. Tuy nhiên, malathion có hiệu lực diệt Ae.aegypti và bọ chét kém nên ít dùng trong phòng chống Dengue xuất huyết và dịch hạch. Tác dụng tởn lưu khoảng 2 – 3 tháng.
Fenitrothion: độc hơn so với malathion, được chỉ định trong những trường hợp côn trùng đã kháng malathion. Liều dùng 1 – 2g/m2.

Fenitrothion

Propoxur: có tác dụng qua không khí ở trong nhà và khu vực ngoài nhà, thời gian tởn lưu khoảng 2 tháng. Propoxur tương đối độc và được sử dụng ở những nơi côn trùng kháng với các hóa chất diệt thuộc nhóm chlo hữu cơ và phospho hữu cơ. Liều dùng từ 1 – 2g/m2.
Benoiocarb: tương đối an toàn đối với người và vật nuôi, thời gian tởn lưu khoảng 2 – 3 tháng. Liều dùng 0,2 – 0,4 g/m2.
Permethrin: có hiệu lực diệt côn trùng nhanh và rất mạnh, ít độc với người và động vật. Tác dụng với nhiều loại côn trùng như muỗi, ruồi, bọ chét, rệp… Trong phòng chống sốt rét có thể phun tởn lưu nhưng thường tẩm màn với liều 0,1 – 0,2g/m2. Tác dụng tởn lưu khoảng 4 – 6 tháng. Tẩm rèm, mành với liều 0,5 – lg/m2 có tác dụng trong phòng chống Dengue xuất huyết.
ICON (Lambda-Cyhalothrin): hiệu lực diệt côn trùng cao, ít độc với người và động vật, thường dùng trong phòng chống sốt rét. Phun với liều 30mg/m2. Tẩm màn với liều 20mg/m2. Tác dụng tởn lưu trong 6 tháng.
Fendona (Alpha-Cypermethrin): có tác dụng diệt muỗi sốt rét vổi hiệu lực cao, ít độc với người và gia súc. Phun với liều 20 – 30mg/m2, hoặc có thể tẩm màn với liều 25mg/m2. Tác dụng tởn lưu khoảng 4 – 6 tháng.
Deltamethrin: phun với liều 0,05 g/m2 có tác dụng tởn lưu 2 – 3 tháng.
Sumithion: dùng trong phòng chống sốt rét và Dengue xuất huyết, phun với liều lg/m2. Tác dụng tởn lưu khoảng 2 – 3 tháng.



Từ khóa tìm kiếm nhiều: sán lá gan, benh giun san

Tìm hiểu hình thể của nấm vi sinh

      Bệnh nấm và bệnh vi khuẩn đều là những bệnh lây lan và có thể thành dịch (ví dụ bệnh nấm da, bệnh nấm tóc…).
Nhưng chúng cũng có những điểm khác nhau:
Nấm có hai phương thức sinh sản vô giới và hữu giới nhưng vi khuẩn chỉ có duy nhất phương thức sinh sản vô giới.
Về cấu tạo, vi khuẩn chỉ cấu tạo bằng một tế bào (đơn bào) còn nấm thì vừa có cấu tạo một tế bào nhưng cũng có thể cấu tạo nhiều tế bào (đa bào).
Các bệnh vi khuẩn thường diễn biến cấp tính, còn các bệnh nấm thì thường có tính chất bán cấp hoặc mạn tính (đa số là mạn tính).
Tuy cùng được chiết xuất từ nấm nhưng kháng sinh kháng khuẩn thường không có tác dụng với nấm và ngược lại kháng sinh kháng nấm cũng không có tác dụng với vi khuẩn.

Tìm hiểu hình thể của nấm vi sinh

HÌNH THỂ CHUNG CỦA NẤM

Cấu tạo chung của nấm gồm hai bộ phận: bộ phận dinh dưỡng và bộ phận sinh sản.

Bộ phận dinh dưỡng

Bộ phận dinh dưỡng của nấm có thể là sợi nấm đôi với nấm sợi hoặc là tế bào nấm đối với nấm men.
Sợi nấm chia nhánh, chằng chịt với nhau thành từng tảng nấm hoặc vè nấm. Tế bào nấm men cũng ken đặc với nhau thành vè nấm. Quan sát đại thể thấy về nấm là những khuẩn lạc.
Sợi nấm có thể rất mảnh, chiều ngang không dày quá 1 μm, đặc và bắt màu đều như lớp Actinomycetes.
Sợi nấm có thể dày, chiều ngang từ 2-5 μm, hình ống, có vách ngăn hoặc không có vách ngăn, trong ống có tế bào chất và nhân.
Nếu có vách ngăn, trong mởi ngăn có một nhân là các lớp nấm Ascomycetes, Basidiomycetes và nếu không có vách ngăn là lớp Phycomycetes.

Bộ phận sinh sản

Các loại nấm đều có bộ phận sinh sản trừ trường hợp ngoại lệ với Actinomycetes.
Nấm Actinomycetes không có bộ phận sinh sản, sợi nấm đứt ra thành những đoạn nhở, khi rơi vào chỗ mối, gặp điều kiện thuận lợi, phát triển thành vè nấm.
Đối với các lớp khác có những bộ phận sinh sản hữu giới hoặc vô giới tùy theo phương thức sinh sản.


Đọc thêm tại: